Ông Trần Thanh Hải, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư và kinh doanh vàng Việt Nam (VGB).
Thị trường vàng trong nước năm 2011 chịu ảnh hưởng không chỉ bởi diễn biến phức tạp của giá vàng quốc tế, mà còn bị chi phối nhiều bởi những thay đổi chính sách. Xu hướng này được nhận định sẽ còn tiếp diễn trong năm 2012.
Phía sau những biến động đó là một hiện tượng kéo dài trong năm 2011 và chưa từng có trong lịch sử: giá vàng trong nước luôn cao hơn nhiều so với giá vàng thế giới quy đổi. Hiện tượng này tiếp tục được chuyển tiếp sang năm 2012, trong khi khả năng can thiệp của nhà điều hành vẫn đang chờ đợi các công cụ pháp lý còn "treo" trước mặt.
Cùng với thực tế đó, người trong cuộc còn cho rằng, hoạt động đầu tư và kinh doanh vàng còn phải sống chung với rủi ro chính sách.
Cà phê cuối tuần kỳ này VnEconomy giới thiệu góc nhìn của một nhà kinh doanh vàng lâu năm về hiện tượng trên, cũng như những biến động trong năm 2011 và dự báo cho năm 2012, ông Trần Thanh Hải, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư và kinh doanh vàng Việt Nam (VGB).
Chào ông, được biết trước đây ông từng công tác tại Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC). Ông có thể chia sẻ lý do vì sao ông rời SJC để lập cho mình một công ty riêng?
Tôi công tác tại SJC từ 1992 đến 1999 trong đó có 3 năm làm Trưởng phòng kinh doanh. Tôi rời SJC để chuẩn bị cho mình một cơ hội mới là học tập tiếp và du học tại Mỹ từ 2004 đến 2007. Tôi trở về Việt Nam đầu năm 2008 và cùng với SJC thành lập sàn vàng đầu tiên của mình tại Hà Nội với xu thế là cùng SJC nắm bắt cơ hội kinh doanh vàng mới, hiện đại hơn và có hệ thống quản trị rủi ro tốt hơn kiểu kinh doanh vàng vật chất thông thường.
“Đau đầu” với rủi ro chính sách
Là một người trong cuộc, ông nhìn nhận thế nào về diễn biến của giá vàng trong nước và quốc tế năm 2011 vừa qua?
Dao động của giá vàng thế giới và của Việt Nam trong năm vừa rồi có khoảng cách lớn nhất trong 10 năm trở lại đây. Cụ thể, giá thế giới ở đỉnh cao nhất là 1.923 USD/oz vào cuối tháng 9, và chỉ hơn 1.300 USD/oz vào giữa tháng 1, khoảng chênh lệch là hơn 600 USD/ouce, trong đó, độ lệch chuẩn là 310,4 USD/oz, cao nhất trong 10 năm.
Tương tự, tại Việt Nam, giá vàng SJC lúc lên đỉnh vào cuối tháng 8 là 49,2 triệu đồng/lượng so với thấp điểm chỉ hơn 35,2 triệu đồng/lượng vào cuối tháng 1, chênh lệch thực tế trong cả năm là 14, 2 triệu đồng/lượng, tương đương 41%.
Năm 2011 cũng là lần đầu tiên trong 10 năm gần đây, giá vàng quốc tế giảm sâu trong thời gian từ đầu tháng 11 đến cuối tháng 12, với độ giảm lên tới gần 170 USD/Oz. Tương tự, giá vàng SJC tại Việt Nam lên đỉnh khoảng gần 47 triệu đồng/lượng và xuống đáy khoảng 43,8 triệu đồng/lượng, nghĩa là giảm gần 4 triệu đồng/lượng, trong cùng khoảng thời gian.
Mấy năm qua, hết sàn vàng bị đóng cửa rồi tới vàng miếng “phi SJC” đang có chủ trương bị xóa. Ông có cho rằng, “cửa” làm ăn cho giới kinh doanh vàng đang hẹp dần? Đối với công ty của ông, những chính sách này đã có ảnh hưởng như thế nào?
Đúng là từ khi vàng được tự do lưu thông vào những năm cuối thập kỷ 1980 trở lại đây thì đây là thời kỳ mà chính sách quản lý về vàng được bàn bạc và thay đổi đáng kể. Những chính sách vĩ mô về vàng có lúc tưởng chừng như nghịch nhau.
Đây cũng là điều khiến giới kinh doanh vàng rất “đau đầu”. Đánh giá về biến động của giá vàng thế giới đã là khó rồi, tại Việt Nam doanh nghiệp kinh doanh vàng còn phải tính đến “rủi ro chính sách”, mà rủi ro này tiềm ẩn những nguy cơ rất nguy hiểm từ sự thả lỏng hay bóp chặt về chính sách cho đến lợi ích nhóm… đều có thể ảnh hưởng tức thì đến giá vàng trong nước bất kể giá thế giới có thay đổi hay không.
Công ty VGB không nằm ngoài quy luật, mặc dù cổ đông của VGB là những doanh nghiệp vàng chuyên nghiệp tại Hà Nội và Sài Gòn như Vàng Kim Linh, SJC Hà Nội, Doji, cho đến Vàng Ngọc Anh (Bàn cờ)…
Dự thảo nghị định mới về quản lý kinh doanh vàng mà Ngân hàng Nhà nước đưa ra, trong đó quy định chỉ có 1 thương hiệu vàng miếng quốc gia, hiện vẫn đang ở trạng thái "treo". Theo ông, mặt tích cực và hạn chế nếu có của nghị định này, sau khi đã được ban hành có thể sẽ như thế nào?
Mặt tích cực là giờ đây Ngân hàng Nhà nước thừa nhận vai trò vàng tiền tệ và chính thức dùng vàng để can thiệp vào thị trường tiền tệ. Điều này sẽ giúp ích tương đối trong việc ổn định chính sách tiền tệ mà cụ thể là tỷ giá VND/USD. Mặt tích cực thứ hai là lợi nhuận từ chính sách từ nay nếu được thực thi đúng sẽ mang lợi ích tập trung cho ngân sách quốc gia nhiều hơn.
Mặt hạn chế của nó là sự thay đổi về cách nhìn nhận và thiệt hại của nhiều người đang nắm giữ những thương hiệu vàng “phi SJC” vốn được Ngân hàng Nhà nước cho phép sản xuất từ nhiều năm trước. Mặc dù hàm lượng và khối lượng là như nhau nhưng có lúc vàng “phi SJC” có giá thấp hơn cả triệu đồng/lượng so với vàng SJC. Điều này là quá bất hợp lý và đưa người nắm giữ loại những loại vàng này vào thế bị lợi dụng.
Trong trường hợp giá vàng SJC cao hơn giá vàng quốc tế quy đổi 2 triệu đồng/lượng, giá vàng “phi SJC” nếu thấp hơn vàng SJC 1 triệu đồng/lượng thì vẫn cao hơn thế giới quy đổi 1 triệu đồng/lượng. Vàng “phi SJC” vẫn nhận được lực cầu tốt từ những đối tượng người dân và các công ty sản xuất nữ trang không có nhu cầu phải mua vàng SJC. Trong khi đó, người giữ vàng “phi SJC” chịu thiệt lớn khi bán đi tài sản này.
Theo tôi được biết, người dân ở khu vực miền Tây Nam Bộ, nơi được xem là có nhiều nguồn vàng "biên mậu", người dân không mấy mặn mà với vàng SJC, vì họ có thể mua được vàng "biên mậu" nhiều lúc có giá rẻ hơn, mà chất lượng không có gì khác.
Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng đề án huy động vàng trong dân. Theo ông, liệu ý tưởng này có khả thi không?
Tôi cho rằng, đây là một ý tưởng khả thi vì lượng vàng trong dân hiện còn rất lớn, theo đánh giá khoảng vài trăm tấn, tương đương hơn hàng chục tỷ USD. Quan trọng hơn, người dân vẫn tin vào Nhà nước hơn, đặc biệt là đối với những tài sản có giá trị cao như vàng.
Người dân và doanh nghiệp nhỏ thiệt thòi?
Trở lại với bất cập nêu trên, giá vàng trong nước đang cao hơn thế giới hàng triệu đồng mỗi lượng, theo ông ai là người hưởng lợi và đâu là người chịu thiệt từ sự chênh lệch này? Để giải quyết triệt để sự chênh lệch này, theo ông cần có giải pháp gì?
Vấn đề này các báo đài đã phân tích và đưa tin nhiều. Chênh lệch này chỉ xuất hiện trong năm 2011 là do giá thế giới biến động với biên độ quá lớn, nhưng tại Việt Nam sự chênh lệch này ngoài nguyên nhân là giá thế giới còn là sự “biến động về chính sách” như đã nói ở trên. Biến động chính sách khiến các doanh nghiệp nhiều lúc rơi vào thế “trở tay không kịp”, khó điều tiết được cung cầu nên họ buộc phải giữ chênh lệch cao so với giá vàng quốc tế và cả giữa giá mua và bán vàng để giữ an toàn.
Người thiệt thòi trước tiên là những người dân thiếu thông tin, dễ bị kích động, sau đến là một số doanh nghiệp vàng nhỏ vừa thiếu thông tin và hệ thống phòng vệ không an toàn và hiệu quả. Người được hưởng lợi nhiều nhất là một số doanh nghiệp vàng lớn, có đầy đủ thông tin cũng như hệ thống phòng vệ hiệu quả.
Theo quan điểm của tôi, đầu tư vàng là một nhu cầu có thật và hợp lý của người dân. Không phải ai cũng chơi được bất động sản hay chứng khoán, vì bất động sản thì cần nhiều vốn, mà chứng khoán thì còn xa lạ với nhiều người Việt Nam, nên vàng vẫn là một kênh đầu tư quan trọng. Để tránh “vàng hóa” nền kinh tế mà vẫn đáp ứng được nhu cầu đầu tư vàng của người dân, một giải pháp là mở một sàn vàng quốc gia. Để đảm bảo an toàn, Ngân hàng Nhà nước có thể ủy quyền cho một số đơn vị làm công tác hedging (phòng vệ), và tăng tỷ lệ ký quỹ cho các giao dịch vàng.
Cách làm này một mặt tiết kiệm được ngoại tệ để nhập vàng, một loại tài sản không tạo ra giá trị gia tăng, đồng thời thu hút được một lượng tiền lớn vào hệ thống tài chính quốc gia, mà lại dẹp được các sàn vàng “chui” đang tồn tại hiện nay. Sàn vàng là một sàn giao dịch hàng hóa, giúp nâng cao mức độ phát triển của thị trường tài chính Việt Nam nói chung, tạo điều kiện cho thu hút vốn nước ngoài tương tự như vốn vào thị trường chứng khoán.
Ở nước ngoài, vàng vật chất không được bán tràn lan như ở Việt Nam mà chủ yếu bán vàng nữ trang với hàm lượng vàng thấp. Ở Việt Nam, vàng tiền tệ là chính, nữ trang chỉ là phụ. Nếu có sàn giao dịch vàng, xã hội có thể hạn chế được tình trạng mất an ninh, chẳng hạn như những vụ cướp tiệm vàng xẩy ra khá nhiều thời gian gần đây...
Còn năm 2012, ông có thể cho biết dự báo của mình?
Giá vàng trong năm 2012 sẽ còn nhiều biến động theo hai hướng, một là tăng lên đến trên 2.000 USD/oz theo dự báo của nhiều tổ chức quốc tế từ giữa năm 2011 và một là điều chỉnh giảm ngắn hạn do tác động của khủng khoảng đồng Euro như đã chứng kiến trong tháng 12 vừa qua. Biên độ dao động và độ lệch chuẩn có khả năng tương tự như 2011.
Năm nay, khủng hoảng của châu Âu và số phận của Euro sẽ là nhân tố quan trọng nhất tác động tới giá vàng. Năm nay là năm bầu cử ở Mỹ, nên nước này chắc sẽ không có chính sách phiêu lưu, nhưng đây là một năm thử thách đối với đồng Euro.
Với tư cách là một nhà kinh doanh vàng, ông có mong muốn gì trong năm 2012?
Kinh doanh vàng trên thế giới và tại Việt Nam trong nhiều năm qua là ngành kinh doanh của niềm tin và rủi ro cao. Tại Việt Nam thì doanh nghiệp còn chịu rủi ro cao hơn so với giới kinh doanh vàng quốc tế như tôi đã có nói ở trên.
Nhưng cũng phải nói thêm rằng, về nguyên tắc, rủi ro cao luôn đi kèm với lợi nhuận cao. Đối tác của tôi ở Singapore có nói kinh doanh vàng ở Việt Nam “khỏe quá”, vì có lúc giá vàng ở Việt Nam cao hơn thế giới 3 - 4 triệu đồng/lượng.
Có một thức tế là hơn nhiều thập kỷ qua và hiện nay, Việt Nam là một trong những nước có mức lạm phát cao nhất khu vực và thế giới. Do đó người dân, doanh nghiệp và các nhà đầu tư tìm đến vàng là điều dễ hiểu. Ngay tại Mỹ, khi đồng USD vẫn đang thống trị cả thế giới thì người dân Mỹ, các quỹ hưu trí cũng không đặt cược hết vào việc gửi tiết kiệm tại các ngân hàng Mỹ đâu. Đây là một thực tế mà những người làm chính sách tiền tệ cần lưu ý.
Cái gì đi ngược lại quy luật tất yếu sẽ sinh ra nhiều biến tướng mà “chi phí xã hội” để giải quyết những biến tướng đó làm thiệt hại hại nhiều hơn nguồn lực của xã hội mà những ‘kết qua nhất thời’ được cho rằng là thành công .
Trước thềm năm mới Nhâm Thìn, nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan nhận định về năm 2011 và cho rằng năm tới nên là năm nền kinh tế VN chuyển mình theo mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế. "Cái khó chủ yếu do nội tại của chúng ta, nên không thể chờ đợi gì ngoài việc tự thay đổi".
2011 là một năm đầy dấu ấn và mang tính bước ngoặt, là thời điểm chín muồi để khởi đầu cho bước đường đổi mới hệ thống tài chính VN trong năm 2012 - 2015.
Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh khẳng định: Vượt qua khó khăn, Chính phủ đã, đang và sẽ chèo lái “con thuyền kinh tế VN” vượt đại dương, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, bảo đảm lợi ích quốc gia, đáp ứng niềm tin và sự kỳ vọng của nhân dân cả nước.
Trong một thế giới thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ, khi nền kinh tế phát triển đến ngưỡng nhất định thì không thể dựa vào những lợi thế so sánh cũ mà cần tạo lập và phát triển những lợi thế mới. Vì thế, ngay cả khi không có sóng gió nặng nề như mấy năm qua, Việt Nam vẫn phải tái cấu trúc nền kinh tế.
Năm 2012 được các nhà kinh tế dự đoán là năm khủng hoảng ảnh hưởng sâu rộng hơn đến đời sống mỗi cá nhân, mỗi gia đình. Trong hoàn cảnh ngặt nghèo như thế, làm thế nào bảo toàn được những giá trị vĩnh hằng của con người, không để chúng lao dốc tỷ lệ thuận với khó khăn kinh tế?
Năm qua, cụm từ “hot” nhất trong thời sự kinh tế VN có lẽ là “tái cấu trúc”. Nhưng hiểu như thế nào về tái cấu trúc, đặc biệt về mục tiêu “đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới” mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đề ra vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau.
Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh - Giám đốc Nghiên cứu Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright TP Hồ Chí Minh trao đổi với Tiền Phong xung quanh vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế trong năm 2012.
Sau hai năm cuộc vận động người Việt dùng hàng Việt, ông Lê Bá Trình, Phó Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trưởng Ban chỉ đạo, cho biết, nhiều nơi, người dân tẩy chay hàng ngoại trôi nổi, dùng hàng Việt.
Tái cấu trúc đầu tư công là một trong ba nội dung trọng tâm của quá trình tái cấu trúc nền kinh tế và đang được ưu tiên thực hiện trong giai đoạn từ nay đến năm 2015.
“Tôi cho rằng đây là xu hướng rất thú vị và đáng chú ý”, Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Đoàn Xuân Hưng nói như vậy khi đề cập đến sự dịch chuyển dòng vốn từ Nhật Bản sang Việt Nam mấy tháng gần đây.
“Tháng hành động vì chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm” năm 2012 sẽ diễn ra từ ngày 10/01 - 10/02/2012 với chủ đề: “Bảo đảm an toàn thực phẩm Tết dân tộc và các Lễ hội”. DĐDN có cuộc trao đổi cùng ông Nguyễn Công Khẩn - Cục trưởng Cục ATVSTP xung quanh vấn đề này.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.