Có tới 5.021 dự án chậm tiến độ và 7.302 dự án phải điều chỉnh, chiếm tỷ lệ lần lượng là 16,9% và 24,6% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ.
“Việc chấp hành chế độ báo cáo của các bộ, ngành, địa phương và các chủ đầu tư chưa thực hiện nghiêm túc, có hiện tượng buông lỏng trong thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư”.
Đó là nhận định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại bản báo cáo tổng hợp tình hình giám sát, đánh giá đầu tư năm 2009, được bộ này gửi trình Thủ tướng Chính phủ mới đây.
Còn mang tính hình thức
Theo cơ quan soạn thảo báo cáo, tính đến ngày 20/3/2010 mới có 65 cơ quan gửi báo cáo tổng thể tình hình thực hiện đầu tư năm 2009, chiếm 54,2% tổng số đơn vị được yêu cầu gửi báo cáo.
Trong con số kể trên, có 40/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi báo cáo (tỷ lệ 63,5%); 10/30 cơ quan bộ và tương đương (chiếm 33,3%); 2/8 cơ quan thuộc Chính phủ (25%) và 13/19 tập đoàn kinh tế và tổng công ty 91 (68,4%).
“Tỉ lệ các cơ quan có gửi báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư giảm nhiều so với năm trước”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết. Trước đó, có tới 102 cơ quan gửi báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư năm 2008, tương đương tỷ lệ khoảng 85%. Báo cáo năm 2007 có tới 60,3% số cơ quan gửi; năm 2006 cũng đạt 68,7%...
Từ số liệu tổng hợp được, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết hiện có 19.956 dự án trên tổng số 29.680 dự án đầu tư của các bộ, ngành, địa phương sử dụng nguồn vốn nhà nước thực hiện đầu tư trong thời kỳ có báo cáo giám sát, đạt tỷ lệ 67,2%. Tuy nhiên theo Bộ, chất lượng của nhiều bản báo cáo không đạt yêu cầu.
“Việc thực hiện chế độ báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư trong các bộ, ngành, địa phương cũng không đầy đủ, nhiều cơ quan không có số liệu, hoặc có số liệu thể hiện tỷ lệ các dự án có báo cáo giám sát, đánh giá đầu tư rất thấp”, báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết thêm.
Ở cấp độ khác, một số báo cáo có số liệu chưa đảm bảo độ chính xác, sai sót về mặt số học, mâu thuẫn với số liệu tại các báo cáo trước, và mang tính hình thức khi thiếu các thông tin chi tiết…
“Việc chấp hành chế độ báo cáo của các bộ, ngành, địa phương và các chủ đầu tư chưa thực hiện nghiêm túc, có hiện tượng buông lỏng trong thực hiện công tác giám sát, đánh giá đầu tư”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết.
Điều này đã hạn chế việc phân tích, đánh giá tình hình đầu tư chung trong cả nuớc và chưa đáp ứng yêu cầu, mục tiêu giám sát, đánh giá đầu tư.
Đầu tư dàn trải, chậm tiến độ
Đánh giá việc thực hiện chủ trương chống dàn trải trong đầu tư sử dụng vốn nhà nước, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng: “Chủ trương đầu tư tập trung hơn cho các công trình trọng điểm, giảm phân tán đầu tư vẫn chưa được thực hiện có kết quả”.
Cụ thể, theo số liệu báo cáo được Bộ tổng hợp, lượng dự án được quyết định đầu tư trong năm 2009 là 11.420 dự án, chiếm khoảng 38,5% tổng số các dự án đang thực hiện đầu tư.
Con số này cao hơn tổng số dự án dự kiến kết thúc đưa vào hoạt động trong kỳ là 9.679 dự án, bằng khoảng 32,6% tổng số các dự án đang thực hiện đầu tư. “Số liệu trên cho thấy tình hình đầu tư vẫn còn phân tán”, báo cáo đưa nhận định.
Trong khi đó, chỉ tính riêng 65 bản báo cáo của các bộ, ngành, địa phương gửi về Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đã có 5.156 dự án vi phạm các quy định về quản lý đầu tư trong năm 2009, chiếm khoảng 17,4% so với tổng số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ.
Vi phạm chủ yếu được xác định là dự án không đúng quy hoạch; phê duyệt không đúng thẩm quyền; không thực hiện đầy đủ trình tự thẩm tra, thẩm định dự án; đấu thầu không đúng quy định; bỏ giá thầu không phù hợp; phê duyệt không kịp thời; ký hợp đồng không đúng quy định; chậm tiến độ; chất lượng xây dựng thấp; có lãng phí.
Đáng chú ý trong số này, có tới 5.021 dự án chậm tiến độ, chiếm khoảng 16,9% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ; 19 dự án không phù hợp quy hoạch; đấu thầu không đúng quy định 18 dự án; phê duyệt không kịp thời 73 dự án; chất lượng xây dựng thấp 25 dự án; ký hợp đồng không đúng quy định có 19 dự án.
“Tình trạng chậm tiến độ vẫn chưa được khắc phục, còn có xu hướng tăng hơn so với các năm trước. Đây là vấn đề cần được quan tâm, vì chậm tiến độ là một trong những nguyên nhân chủ yếu tăng chi phí, giảm hoặc không còn hiệu quả đầu tư của dự án”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư lưu ý Thủ tướng.
Nguyên nhân của tình trạng này là do khó khăn trong giải phóng mặt bằng, tái định cư, tư vấn yếu kém hoặc quá tải, một số đơn vị thi công không đủ năng lực, khâu tổ chức thực hiện của chủ đầu tư yếu…
Ngoài ra, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho biết, tổng hợp báo cáo ghi nhận đã có 7.302 dự án phải điều chỉnh, chiếm 24,6% tổng số dự án thực hiện đầu tư trong kỳ, trong đó 6,3% điều chỉnh về nội dung đầu tư; 8,9% điều chỉnh về tiến độ và 9,2% điều chỉnh tổng mức đầu tư…
Kinh tế Việt Nam hiện nay có thể được mô phỏng như một người vừa ốm dậy, vẫn còn không ít bộ phận cần được chữa trị quyết liệt mới hy vọng được bình phục hoàn toàn.
Nếu giữ lạm phát ở mức thấp (8,5%), kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng ở mức 6,3% trong năm nay. Trong khi đó, nếu chấp nhận lạm phát ở mức cao hơn (10,5%), GDP cả nước có thể gia tăng 6,8-6,9%.
Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng nhận định hai năm qua, khu vực kinh tế tư nhân vẫn tiếp tục tăng trưởng khá trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu.
Đánh giá cao môi trường đầu tư tại Việt Nam, hãng tin tài chính Bloomberg của Mỹ ngày 6/4 nhấn mạnh Việt Nam đang trở thành địa chỉ đầu tư hấp dẫn các tập đoàn đa quốc gia như Intel, Samsung, Toyota hay Microsoft...
Đối với Việt Nam hay những nước có thu nhập trung bình khác như Philippines, Indonesia, Malaysia, Thái Lan... cần ưu tiên đầu tư vào cơ sở vật chất và nhân lực để khuyến khích sự di chuyển lên chuỗi giá trị cao hơn trong sản xuất và xuất khẩu.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tuyên bố chung Hua Hin của các nước Ủy hội sông Mekong nêu 4 vấn đề quan trọng: An ninh lương thực; phát triển năng lượng và thủy điện; giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu; tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội trong xây dựng kế hoạch và tiến trình ra quyết định hành động.
Hiện tình hình khô hạn nghiêm trọng diễn ra trên cả nước đã ảnh hưởng lớn đến việc tích nước các hồ thủy điện. Tổng sản lượng thủy điện thiếu hụt do không tích được đầy các hồ thủy điện lên đến gần 1 tỷ kWh, gây ảnh hưởng lớn đến việc bảo đảm đủ nước cho sản xuất nông nghiệp và đủ điện cho các nhu cầu xã hội
Các chuyên gia kinh tế cho rằng Việt Nam cần hình thành hệ thống quốc gia về đổi mới (NIS) nhằm tạo ra khuôn khổ để Chính phủ xây dựng và thực thi các chính sách tác động tới quy trình đổi mới.
Kinh tế thế giới đã có những tín hiệu tích cực trong năm 2010. Nhưng những hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế thế giới như tình trạng nợ nần và thâm hụt ngân sách, nạn thất nghiệp cao đang có nguy cơ đẩy một số nền kinh tế phát triển vào cuộc suy thoái mới. Để ổn định và phát triển bền vững, Việt Nam cũng như nhiều nước đều đang phải đối mặt với nhiều thách thức....
Ông Ayumi Konishi, Giám đốc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam nhận định với dân số ước đạt khoảng 100 triệu người vào năm 2020, trong đó có tới 60% dân số ở độ tuổi lao động và tỷ lệ này sẽ còn tiếp tục kéo dài trong vòng 30 năm nữa, Việt Nam có lợi thế rất lớn trong phát triển kinh tế.
"Bẫy thu nhập trung bình" là vấn đề mà nhiều nước đang mắc phải, đặc biệt là những nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, Malaysia, Thái Lan...
Kết luận của Ban Bí thư về việc khu vực tư nhân có thể tiếp cận nguồn vốn ODA là một bước hiện thực hóa chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần, trong đó khu vực tư nhân được tạo điều kiện phát triển bình đẳng, kể cả tiếp cận với các nguồn vốn.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.