Thủ tướng Đức Angela Merkel vừa đưa ra nhận định rằng những khó khăn tài chính trong khu vực sử dụng đồng euro (Eurozone) có thể là cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất của châu Âu kể từ sau cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai.
Theo bà, đồng euro là biểu tượng của một châu Âu thống nhất, hòa bình, tự do và thịnh vượng, song đã đến lúc cần "bước đột phá" cho một châu Âu mới. Thủ tướng Merkel còn kêu gọi điều chỉnh Hiệp ước châu Âu, theo đó đưa vào các cơ chế trừng phạt tự động để phạt những nước không tuân thủ Hiệp ước Ổn định và Tăng tưởng châu Âu.
Tuyên bố của bà Merkel thể hiện rõ tính chất nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng nợ tại Eurozone. Nhiều chuyên gia kinh tế cũng đưa ra nhận định khá bi quan rằng nếu không có các biện pháp hữu hiệu để giải quyết dứt điểm vấn đề nợ công, Eurozone sẽ có nguy cơ tan rã và những hệ lụy của nó sẽ khôn lường.
Vượt khỏi tầm kiểm soát
Theo mạng tin Nghiên cứu toàn cầu, cuộc khủng hoảng nợ công tại Eurozone đang vượt khỏi tầm kiểm soát và Liên minh tiền tệ này phải đối mặt với nguy cơ sụp đổ. Cuộc khủng hoảng này đang ngày càng nóng và có nguy cơ lan từ Hy Lạp sang Italy (nền kinh tế lớn thứ ba châu Âu) và Tây Ban Nha (nền kinh tế lớn thứ tư châu Âu). Một số chuyên gia nhận định cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu hiện vẫn chưa tới đáy và nó có thể bùng nổ vào năm 2012.
Liên quan đến nguy cơ này, nhật báo Le Monde của Pháp vừa gióng lên hồi chuông cảnh báo rằng Pháp - nền kinh tế lớn thứ hai trong Liên minh châu Âu - có thể trở thành nạn nhân tiếp theo của cuộc khủng hoảng nợ công, sau Hy Lạp và Italy. Báo này đã đưa ra những con số đáng báo động rằng các khoản nợ của Pháp đã chạm ngưỡng 1.700 tỷ euro, chỉ thấp hơn chút ít so với mức tương ứng 1.900 tỷ euro của Italy.
Tuy nhiên, tình hình nợ công của Pháp có phần rủi ro hơn cả Italy, bởi lẽ chủ các khoản nợ chính phủ Italy là các nhà đầu tư trong nước, trong khi Pháp chủ yếu lại vay nợ nước ngoài. Vì vậy Pháp rất dễ tổn thương một khi thị trường quốc tế có biến động mạnh.
Hiện nhiều nước trong Eurozone đang triển khai các biện pháp "khắc khổ" tiết kiệm chi tiêu để cắt giảm thâm hụt ngân sách. Biện pháp này nhằm đáp ứng điều kiện của các chủ nợ, song lại ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong nước. Nếu các nền kinh tế không tăng trưởng, nguồn thu từ thuế sẽ giảm và các nước mất khả năng trả lãi các khoản nợ vay. Các ngân hàng lớn tại Mỹ và châu Âu bị suy yếu và các nhà kinh tế đang đặt dấu hỏi liệu Ngân hàng trung ương châu Âu (ECB) có thể tiếp tục mua trái phiếu của Italy và Tây Ban Nha đến bao giờ.
ECB và các thành viên không có sự phối hợp, khi các ngân hàng Pháp và nhiều nước khác đang bán trái phiếu mà ECB buộc phải mua. Tất cả những yếu tố này đang dẫn đến bất ổn về chính trị, tài chính và kinh tế. Hệ quả là tỷ lệ đòn bẩy của các ngân hàng châu Âu hiện là 26:1, trong khi tỷ lệ bình thường là 9:1. Việc giá tài sản giảm 4% sẽ xóa sạch giá trị tài sản.
Tỷ lệ nợ/giá trị tài sản của các tập đoàn là 145% tại Bồ Đào Nha, 135% tại Italy, 113% tại Ireland, Hy Lạp: 218%, Tây Ban Nha: 152%, Anh: 89%, Đức: 105% và Pháp: 76%. Những khó khăn tài chính không phải là căn bệnh riêng tại 6 nước đang gặp khó khăn và việc bán đấu giá trái phiếu có thể thất bại ngay cả tại Đức. Nếu như ECB không mua trái phiếu của Italy thì các thị trường trái phiếu Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã sụp đổ. Châu Âu đang là chất xúc tác và cuối cùng có thể khiến hệ thống tài chính sụp đổ.
Các ngân hàng châu Âu đang phàn nàn về việc họ phải tăng dự trữ vốn lên 9% vào ngày 30/6/2012, trong bối cảnh các nước đã chi khoảng 610 tỷ USD cho các chương trình cứu trợ, còn nếu tính cả việc sử dụng các sản phẩm phái sinh, con số này có thể lên tới 1.400 tỷ USD.
Sự phục hồi trước đây từ suy thoái kinh tế tại châu Âu phần lớn là do tăng khoản nợ chính phủ từ mức 74% năm 2009, lên 83% năm 2010 tại Đức, tại Pháp từ 79% lên 82%, còn tại Hy Lạp và Italia là từ 116% lên 130% và 160%. Đòn bẩy này hiện dẫn đến việc giảm nợ nần, có thể mang lại cân bằng, nhưng không tốt cho tăng trưởng kinh tế vì nó làm giảm khả năng huy động vốn của một nền kinh tế.
ECB cũng đang cho lưu hành thêm 300 tỷ USD bằng cách mua trái phiếu và làm tăng lạm phát. Tệ hơn nữa là ECB đã nâng mức tăng tiền tệ từ 9,5% hồi tháng 6 lên 23% vào tháng 10. Các chính sách tiền tệ lỏng lẻo đã gây ra những vấn đề trên. Trong khi đó lạm phát lại tăng. Châu Âu sẽ không đạt được mức tăng trưởng lành mạnh, nếu các chính phủ tiếp tục các chính sách khắc khổ. Nhưng các ngân hàng và các chính phủ sẽ không làm như vậy vì sợ bị mất kiểm soát. Điều đó có nghĩa là nợ nhiều hơn và lạm phát cao hơn và có thể là siêu lạm phát.
Đại bùng nổ nợ vào năm 2012
Hiện châu Âu đang phải đối mặt những thách thức lớn khi các khoản nợ khổng lồ của nhóm PIIGS (Bồ Đào Nha, Italy, Ireland, Hy Lạp và Tây Ban Nha) tới kỳ đáo hạn. Bắt đầu từ tháng 9/2011 tới cuối năm 2011, Italy cần phải huy động lượng tiền lên tới trên 160 tỷ USD để trang trải thâm hụt tài chính và trả gốc lẫn lãi các khoản nợ tới hạn thanh toán.
Nếu Italy tiếp tục gặp khó khăn trong việc huy động vốn, trong cơ chế cứu trợ đồng euro hiện nay, Liên minh châu Âu (EU) không có cách nào để cứu Italia thoát khỏi khủng hoảng nợ và rất có khả năng sẽ xuất hiện một cơn chấn động tài chính. Từ năm 2012 tới năm 2014, các nước PIIGS sẽ bước vào thời kỳ cao điểm trả nợ.
Đây cũng là khoảng thời gian thị trường kiểm nghiệm tình hình chấp hành chương trình thắt chặt chi tiêu của các nước trên. Nếu các nước này không thực hiện được kế hoạch cắt giảm thâm hụt tài chính như đã cam kết với Tổ chức tiền tệ quốc tế (IMF) và EU, thị trường sẽ mất niềm tin vào các nước này.
Hơn nữa, cơ chế bảo hiểm nợ mà Quỹ Bình ổn Tài chính châu Âu (EFSF) đưa ra gần đây nhằm thu hút nguồn tiền từ các nước như Trung Quốc cũng như việc thiết lập nó hiện vẫn chưa chín muồi. Nếu xem xét viễn cảnh phát triển của cuộc khủng hoảng nợ công hiện nay, vấn đề nợ công có khả năng đại bùng nổ vào khoảng từ tháng 2 tới tháng 4/2012.
“Cơn bão” tài chính bắt nguồn từ khu vực châu Âu đang gieo rắc ảnh hưởng tiêu cực lên kinh tế thế giới. Những tín hiệu về một cuộc suy thoái toàn cầu mới đang hiện ra rõ nét.
Các nhà hoạch định chính sách Đông Nam Á đang nhìn về phía bắc tới lục địa châu Á và về phía đông xuyên Thái Bình Dương để thấy hai "tài sản lớn", khác biệt và bổ sung cho khu vực của họ: Đó là nền kinh tế khổng lồ Trung Quốc và sức mạnh quân sự vô dịch của Mỹ.
Tiếp sau dự báo về kinh tế Mỹ, châu Âu trong 2012 và 2013, các chuyên gia phân tích của ngân hàng Morgan Stanley đã đưa ra nhận định về tổng mức thâm hụt ngân sách trong giai đoạn 2011 - 2013 của 21 nền kinh tế hàng đầu thế giới.
2011 quả là một năm nhiều khó khăn. Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới chập choạng, lúc sáng lúc tối, thì việc các doanh nghiệp đưa ra những quyết định thiếu sáng suốt, những bước đi thiếu tự tin là khó tránh khỏi.
Ngân hàng Goldman Sachs của Mỹ vừa công bố 9 dự báo về kinh tế toàn cầu trong các năm 2012 và 2013. Đây là những nhận định về triển vọng tăng trưởng kinh tế các khu vực, chứng khoán, hàng hóa, tỷ giá, chính sách của các ngân hàng trung ương…
Những nền kinh tế công nghiệp phát triển hiện đang mất dần ảnh hưởng. Trong khi, các nước BRICS đang phát triển ngày một nhanh chóng và đang đóng góp đáng kể vào kinh tế toàn cầu.
Tăng trưởng kinh tế tại các quốc gia Đông Á mới nổi sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng trong năm 2012 khi các vấn đề nợ công ở châu Âu ngày càng trầm trọng còn nền kinh tế Mỹ èo uột đang gia tăng ám ảnh về một cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu sâu hơn, Báo cáo cập nhật về Kinh tế châu Á mới nhất của ADB công bố sáng nay cho biết.
Trả lời câu hỏi Ai cai trị nước Mỹ? có lẽ nhiều người sẽ nói: chính phủ và Tổng thống Mỹ đang cai trị nước này. Câu trả lời ấy không sai nhưng chưa đi vào bản chất vấn đề. Nếu tiếp tục tìm hiểu ta sẽ thấy Ai cai trị nước Mỹ là một vấn đề phức tạp, cho tới nay vẫn chưa có câu trả lời tương đối nhất trí mà tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.
Trong báo cáo “Tình hình năng lượng thế giới năm 2011” vừa công bố, Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) nhận định, trong vài thập kỷ tới, Nga sẽ là "nền tảng của hệ thống năng lượng toàn cầu."
Con đường kinh tế của quốc gia nào, Trung Quốc hay Ấn Độ, chủ nghĩa tư bản nhà nước hay doanh nghiệp tư nhân - sẽ bền vững? Xã hội nào sẽ tồn tại tốt hơn? Quốc gia nào có ý thức mạnh mẽ hơn về số phận của mình? Cả thế giới đều muốn biết câu trả lời.
Thị trường thế toàn cầu đang rất hoang mang. Tất cả mọi người đều biết rằng giờ đây ba trụ cột của kinh tế thế giới không còn giữ vững được vị thế của mình. Châu Âu, Trung Quốc, Mỹ, nền kinh tế nào tồi tệ nhất?
Khi Đông Á đang nỗ lực đối phó những thách thức an ninh biển đang gia tăng ở khu vực Tây Thái Bình Dương – bao gồm thay đổi cán cân quyền lực, căng thẳng tranh chấp trên biển và bất đồng cơ bản về cách giải thích Luật Biển – có ba câu chuyện mới sẽ góp phần xác định lại cấu trúc địa chính trị khu vực.
Nhà nước thì luôn có xu hướng tập trung quyền lực, còn thể chế pháp quyền và giải trình và chịu trách nhiệm chính trị thì lại đặt ra những hạn chế theo phương thức, đó là, cho dù chính quyền có mạnh đến đâu chăng nữa thì nó vẫn phải được kiềm tỏa bởi pháp luật và chịu trách nhiệm giải trình trước nhân dân.
Sự chuyển đổi quyền lực kinh tế từ phương Tây sang phương Đông đang được thực hiện với tốc độ nhanh và thế giới các quốc gia giàu có sẽ sớm mất ưu thế của mình.
Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Christine Lagarde vừa cảnh báo, cuộc khủng hoảng nợ châu Âu có nguy cơ đẩy nền kinh tế toàn cầu vào một “thập kỷ mất mát”, hãng tin CNBC cho hay.
Do kinh tế tăng trưởng bùng nổ, nước đang ra đi khỏi Trung Quốc: các ao hồ đang bốc hơi, các sông băng tan chảy, các dòng sông khô cạn. Hơn 50 thành phố Trung Quốc đã ghi nhận sự sụt lún liên tục, 75% rừng bị phá hủy...
Báo chí quốc tế gần đây xôn xao chuyện người đồng sáng lập mạng xã hội Facebook, anh Eduardo Saverin, xin từ bỏ quốc tịch Mỹ và cư trú dài hạn ở Singapore nhằm tránh thuế suất thuế thu nhập cao ngất ngưởng ở Mỹ.
Hôm 20/5, lãnh đạo 8 nền kinh tế phát triển gồm Anh, Canada, Pháp, Đức, Italy, Nhật Bản, Nga và Mỹ (G8) đã kết thúc hội nghị thượng đỉnh thường niên của nhóm tại Trại David (Maryland, Mỹ).
Các nhà lãnh đạo của Trung Quốc đã bắt đầu sử dụng đến các công cụ kích thích kinh tế để chặn đà suy giảm tăng trưởng. Nhưng theo giới quan sát, Bắc Kinh giờ không còn nhiều lựa chọn như trước.
Ngày 29-4 vừa qua, Thủ tướng Đức Angela Merkel lên tiếng bà sẽ gửi đoàn bác sĩ đến Ukraina để thảo luận với Tổng thống Viktor Yanukovich về việc đưa cựu Thủ tướng Tymoshenko đến Đức để chữa bệnh theo yêu cầu của bà Tymoshenko.
Trong những ngày gần đây, tình hình tại biển Đông lại có xu hướng nóng lên với những tranh chấp giữa Trung Quốc và Philippines. Đây là điều dễ hiểu vì lợi ích tại biển Đông đối với Trung Quốc và các nước tuyên bố chủ quyền ở khu vực này là rất lớn.
Một kế hoạch của chính phủ trung ương Trung Quốc nhằm tạo ra sự đột phá lớn trong công nghiệp du lịch trên hòn đảo nhiệt đới Hải Nam dự báo sự tăng trưởng vượt bậc trong kinh tế. Tuy nhiên, nó cũng làm rộng thêm khoảng cách giữa người giàu và người nghèo mà Bắc Kinh đang cố gắng thu hẹp.
So với phương Tây, các tổ chức xã hội của Trung Quốc còn rất không chín muồi, chưa thể hiện rõ tính chất tự chủ, tự nguyện, phi chính phủ; còn nặng tính quá độ, tương ứng với thực tế xã hội Trung Quốc đang ở thời kỳ chuyển đổi.
Chuyện Tổng thống Nga Vladimir Putin không tới tham dự hội nghị thượng đỉnh 8 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G8), thay vào đó là Thủ tướng Dmitry Medvedev, đang tạo ra nhiều câu hỏi về lý do thực sự của nó.