GDP (Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm trong nước) đã dần dần trở thành quen thuộc không chỉ với các nhà kinh tế, các nhà quản lý và điều hành từ Trung ương tới địa phương, các doanh nghiệp mà cả với người dân nước ta được bắt đầu từ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 183/TTg ngày 25/12/1992 về việc Việt Nam chính thức áp dụng Hệ thống Tài khoản quốc gia (SNA) trên phạm vi cả nước.
GDP là một trong những chỉ tiêu quan trọng của SNA, là một trong những chỉ tiêu được Quốc hội trong kỳ họp cuối năm thông qua cho kế hoạch phát triển KT-XH năm sau, và cũng là chỉ tiêu được coi như là quan trọng nhất cùng với các chỉ tiêu khác để xem xét đánh giá tình hình phát triển KT-XH của đất nước sau một năm xây dựng và phát triển.
GDP là giá trị hàng hoá và dịch vụ cuối cùng được tạo ra của nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định thường là một năm.
Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng chỉ tiêu này ở mỗi quốc gia và cả thế giới trong nhiều năm đã qua và các năm sau được nhìn nhận dưới giác độ phát triển bền vững thì GDP có nhiều nhược điểm bởi không quan tâm đến môi trường, sinh thái nên tài nguyên đã bị khai thác trong các hoạt động sản xuất để tạo ra sản phẩm và dịch vụ dẫn đến nhiều nơi, nhiều lúc chỉ vì nhằm tăng trưởng (tăng GDP) nói chung, vì lợi nhuận nói riêng, mà đã khai thác vô tội vạ tài nguyên, không tính đến tác động đến môi trường, sinh thái, không tính đến việc đầu tư để tái tạo lại những tài nguyên đã bị khai thác, hoặc hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái; Theo SNA, phần khấu hao tài sản cố định (máy móc, thiết bị,...) vào tài khoản khấu hao, nhưng phần tài nguyên bị mất do khai thác và sử dụng trong quá trình hoạt động sản xuất lại tính vào tài khoản thu nhập. Chính vì vậy, nhiều nước, nhiều tổ chức quốc tế (trong đó có tổ chức thống kê Liên hợp quốc) đã nghiên cứu để tính một chỉ tiêu tổng hợp khác nhằm phản ảnh được sự tăng trưởng kinh tế một cách bền vững do đã tính đầy đủ các chi phí về vốn sản xuất, vốn con người và vốn môi trường. Đó là chỉ tiêu GDP xanh (Green GDP).
Chỉ tiêu GDP xanh là phần còn lại của GDP thuần1 sau khi đã khấu trừ chi phí tiêu dùng tài nguyên và mất mát về môi trường do các hoạt động kinh tế. Như vậy, chỉ tiêu GDP xanh sẽ phản ánh được thực chất phát triển kinh tế của một quốc gia trên cả ba mặt: KT, XH, môi trường. Chỉ tiêu GDP xanh đã chính thức được giới thiệu vào năm 1993 trong Dự thảo hướng dẫn “Gắn kết hạch toán môi trường và hạch toán kinh tế”2 do Liên hợp quốc xây dựng nhằm đưa ra một hệ thống gắn kết kinh tế và môi trường, gọi tắt là SEEA (System of intetrated Enviromental and Economic Accounting).
GDP xanh cũng được tính theo ba phương pháp:
Phương pháp sản xuất:
GDP xanh = Tổng giá trị tăng thuần có tính đến yếu tố môi trường của các ngành kinh tế - Chi phí xử lý ô nhiễm môi trường do tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình gây ra.
Phương pháp thu nhập:
GDP xanh = Tổng sản phẩm trong nước thuần - Chi phí bảo vệ môi trường và giá trị tổn thất, xuống cấp tài nguyên môi trường.
Phương pháp tiêu dùng:
GDP xanh = Tiêu dùng cuối cùng + Tích luỹtài sản - Khấu hao tài sản - Chi phí bảo vệ môi trường và giá trị tổn thất, xuống cấp tài nguyên môi trường + Chênh lệch xuất, nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ.
Nhiều nước đã tính thử nghiệm GDP xanh, cơ bản theo cách tính chỉ tiêu GDP xanh của Liên hợp quốc đưa ra, tuy nhiên cũng tuỳ thuộc rất nhiều vào thực trạng của thống kê từng nước, đặc biệt là với các chỉ tiêu liên quan đến môi trường, mà ở đây đòi hỏi có các thiết bị và đội ngũ cán bộ khoa học thường xuyên theo dõi việc khai thác sử dụng tài nguyên môi trường trong các hoạt động sản xuất cũng như các chất thải gây ô nhiễm môi trường. Thí dụ, ở Nhật Bản, tỷ lệ GDP xanh so vớiTổng sản phẩm trong nước thuần (theo giá hiện hành), như sau: 1970: 91,5%; 1980: 97,9%; 1990: 98,8%;1995: 98,8%. Còn ở Trung Quốc đã tính thử nghiệm cho năm 1992 (theo giá hiện hành), tỷ lệ là: 82,31%.
Nước ta cũng bắt đầu nghiên cứu việc tính chỉ tiêu GDP xanh, nhưng mới ở mức độ như các đề tài nghiên cứư khoa học ở các cấp độ khác nhau, như: Đề tài ở Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế-xã hội quốc gia là đề tài Cấp Bộ, cũng liên quan đề tài này ở Viện Khoa học Thống kê (Tổng cục Thống kê) là đề tài cấp Cơ sở... Chính vì vậy, kết quả các đề tài mới dừng lại nêu vấn đề cần thiết, những vấn đề lý thuyết... còn chưa có một kết quả có tính định lượng chỉ tiêu GDP xanh một năm nào đó.
Chỉ tiêu tiến bộ đích thực (GPI - Genuine Progress Indicator)
Nếu như GDP xanh đã khắc phục một phần nào hạn chế về phạm vi tính của chỉ tiêu GDP dưới giác độ phát triển bền vững, nhưng GDP xanh vẫn bao gồm những hoạt động (đúng ra xã hội không mong muốn) và lại không bao gồm một số hoạt động luôn cần cho xã hội và chắc chắn sẽ còn rất cần cho xã hội trong tương lai nếu được xem xét dưới giác độ tiến bộ của xã hội, sự thịnh vượng trong phạm vi quốc gia và cả thế giới, nghĩa là những phạm vi mà chỉ tiêu GDP đang tính và chưa tính.
Thật vậy, với phạm vi tính GDP hiện nay, thì có quá nhiều “nghịch lý” không thể chấp nhận dưới giác độ tiến bộ của xã hội. Chẳng hạn, những hoạt động cho việc theo dõi, hạn chế tội phạm, các khoản chi về ly hôn, về lập gia đình mới (sau ly hôn) đều được tính vào giá trị sản xuất (GO), được tính vào GDP; Phát triển ngành công nghiệp sản xuất vũ khí, xuất khẩu vũ khí, tăng cường lực lượng vũ trang... cũng làm tăng GDP; Các hoạt động kinh tế gây ô nhiễm và sau đó là các hoạt động khắc phục ô nhiễm đều được tính vào GDP (thí dụ, sự kiện nhà máy Vedan (Đồng Nai) sản xuất bột ngọt xả nước thải ra sông Thị Vải đã vi phạm Luật Môi trường nhiều năm qua, gây nhiều thiệt hại cho môi trường, sinh thái và nhiều hoạt động kinh tế và đời sống của nhân dân như mọi người đã biết); Nhiều hoạt động kinh tế phải sử dụng tài nguyên (khai thác than, khoáng sản, dầu, khí, gỗ, nước,...) có những tài nguyên không tái tạo được (than, quặng, dầu,...) có nghĩa là làm suy kiệt tài nguyên được tính làm tăng VA, nhưng lại không coi đó là các hoạt động làm giảm sút tài sản,...; GDP không tính đến sự phân bổ thu nhập, vì có thể GDP tăng, nhưng người dân lại phải sống trong môi trường bị ô nhiễm (khí thải, bụi, tiếng ồn, nước không sạch,...), an ninh xã hội giảm, có nghĩa là sự “tiến bộ” trong cuộc sống không tăng mà lại còn giảm đi; GDP lại bỏ qua các khoản vay nợ nước ngoài để tiêu dùng (nhập siêu), các khoản tiêu dùng (tiêu dùng chính phủ và tiêu dùng cá nhân) cũng được tính vào GDP và nó trở thành gánh nặng cho nền kinh tế quốc gia nhiều năm sau.
Trong khi đó, nhiều hoạt động rất cần thiết cho mỗi gia đình, cho xã hội lại không được quan tâm đến, như: các công việc nội trợ, các hoạt động cộng đồng hoàn toàn tự nguyện... không được tính vào GDP. Điều này có nhiều nguyên nhân thuộc phương pháp tính, phạm vi tính GDP, mà quan trọng hơn các hoạt động đó không được tiền tệ hoá (làm sao tính đúng và đủ giá trị công sức các bà vợ ở nhà làm nội trợ và dạy dỗ con cái... bằng đơn vị tiền tệ).
Do phạm vi tính GDP, cho nên nếu sử dụng chỉ tiêu đánh giá sự tiến bộ của một quốc gia trên thực tế là không đầy đủ, và có những bất cập vì nó không phản ảnh sự tiến bộ của xã hội, sự lành mạnh của xã hội, sự lành mạnh của môi trường, sự đáp ứng các nhu cầu về thể chất và tinh thần của người dân để cuộc sống của họ có chất lượng hơn... Bằng việc so sánh ở một số quốc gia, người ta thấy có xu hướng sự tăng lên theo GDP bình quân đầu người thường cao hơn sự tăng lên về thịnh vượng kinh tế, về sự tiến bộ của xã hội.
Chính vì vậy, cách đây gần hai chục năm, Liên hợp quốc đã có chương trình hoàn thiện các chỉ tiêu đo lường sự tiến bộ của mỗi quốc gia. Tìm kiếm một chỉ tiêu có kết hợp với việc bảo vệ môi trường, với việc nâng cao cuộc sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện, có chất lượng cao hơn. Do đó, cách đây hơn chục năm, một trong những thay thế đầu tiên cho GDP trong đánh giá tiến bộ của xã hội là Chỉ tiêu tiến bộ đích thực (Genuine Progress Indicator - GPI) được các tổ chức phi chính phủ, một số quốc gia nghiên cứu áp dụng và coi như là một chỉ tiêu quan trọng trong kế hoạch phát triển bền vững của quốc gia.
GDI đã xem xét, bổ sung thêm hoặc loại bỏ (không tính) nếu so với phạm vi tính GDP gồm 20 phạm vi khác nhau, có thể gồm vào một số nhóm sau:
Các công việc nội trợ, lao động tự nguyện và giáo dục cao sẽ được tính vào GPI (GDP không tính phạm vi hoạt động này);
- Các chi phí kinh tế cho các hoạt động liên quan đến tội phạm, như: phí tổn về pháp luật, tổn hại về sức khoẻ về tài sản... GDP tính cả các tổn phí này, trong khi GPI không tính các chi phí phát sinh do tội phạm;
- Các hoạt động sử dụng tài nguyên thiên nhiên có giá trị mai sau, nó không tạo ra và càng không làm tăng thêm sự thịnh vượng hôm nay, mà thực chất là sự “vay mượn” thế hệ mai sau. GDP tính cả sự vay mượn này vào thu nhập hôm nay, còn GPI thì ngược lại không tính. Những suy giảm hoặc làm thoái hoá rừng, đất đai, và mất đi của các tài nguyên không thể khôi phục được (khoáng sản, nhiên liệu trong lòng đất,...) thì được coi là phí tổn hiện tại khi tính GPI.
- Hiện tượng ô nhiễm do các hoạt động sản xuất và chi phí khắc phục ô nhiễmnày được tính như là lợi ích kép khi tính GDP. Còn GPI lại trừ các chi phí do ô nhiễm (không khí, nước,...) bằng những thiệt hại thực tế về sức khoẻ của con người và môi trường.
- Thiệt hại môi trường lâu dài (sự nóng lên của trái đất, các hệ quả sau đó như nước biển dâng lên, diện tích đất bị thu hẹp, bão lụt, nắng hạn tăng lên,...). Các chi phí cho việc sử dụng năng lượng, hoá chất gây nên các hiện tượng môi trường trên được coi là các chi phí khi tính GPI và phải loại trừ khi tính chỉ tiêu này;
- Một nghịch lý ở các nước phát triển, các nước giàu, thời gian nhàn rỗi để chăm lo công việc giađình hoặc giải trí, nghỉ ngơi giảm thiểu so với thời gian làm việc. Đây là một thiệt hại, nhưng GDP đã bỏ qua thực tế thiệt hại này, nhưng khi tính GPI lại quan tâm vấn đề này. Do vậy GPI sẽ tăng lên cùng với sự gia tăng thời gian nhàn rỗi (chú ý, không phải là tăng thời gian thất nghiệp).
GDP gộp cả các khoản tiền mà nhân dân phải chi cho việc ngăn ngừa các bất trắc ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, như: tiền bồi thường cho các rủi ro: khám sức khoẻ, sửa chữa phương tiện do tại nạn, mua sắm các thiết bị kiểm tra ô nhiễm... Khi tính GPI các khoản chi bảo đảm an toàn cho cuộc sống này được coi là phí tổn hơn là các phúc lợi, do đó không nằm trong GPI.
- Thời gian sử dụng các mặt hàng tiêu dùng lâu bền và cơ sở hạ tầng công cộng: GDP tính lẫn lộn giá trị mua sắm cơ bản của người tiêu dùng với tổng số tiền chi trả để mua chúng, GPI coi số tiền chi tiêu để mua sắm các khoản chính yếu là phí tổn (nên không nằm trong GDP), còn giá trị chi trả dịch vụ hàng năm khi sử dụng nó (phí cầu, đường,...) lại được tính vào phúc lợi (nên lại nằm trong GDP);
- Còn sự phụ thuộc vào tài sản nước ngoài do vay nợ, hoặc nợ trong cán cân thanh toán quốc tế), nếu tiền vay nợ nước ngoài được sử dụng cho đầu tư nhằm làm tăng sự thịnh vượng quốc gia thì được tính vào GPI, nhưng nếu để chi cho tiêu dùng thì không nằm trong GPI (tức là làm giảm GPI);
Tóm lại, người ta hy vọng chỉ tiêu GPI sẽ bổ sung cho chỉ tiêu GDP nhằm đánh giá sự tiến bộ của xã hội ở mỗi quốc gia; GPI là một nhiệt độ kế để cung cấp các thông tin về sức khoẻ của nền kinh tế và trạng thái KT-XH của quốc gia thay đổi qua các năm, người dân của quốc gia được hưởng một cuộc sống tiến bộ như thế nào không chỉ về vật chất và tinh thần, trong một môi trường ít ô nhiễm và xã hội bình an. Và thật ra, phạm vi, phương pháp tính GPI cũng còn cần được hoàn thiện hơn nữa, để có thể được nhiều nước chấp nhận và tính toán như một chỉ tiêu thống kê quốc gia. Chính vì thế OECD cũng như tổ chức thống kê Liên hợp quốc vẫn tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh cách tính chỉ tiêu này.
Ở nước ta, chỉ tiêu GPI và chỉ tiêu GDP xanh (trước mắt là chỉ tiêu GDP xanh) cũng cần sớm được nghiên cứu, cần được đầu tư thích đáng về con người, về tiền, về tổ chức và cơ chế... để có thể tính thử nghiệm hai chỉ tiêu này, tiến tới 5 năm một lần chúng ta có thể công bố chỉ tiêu GDP xanh và tiếp đó là chỉ tiêu GPI và trong tương lai hai chỉ tiêu này sẽ lần lượt có thể được ghi nhận trong Hệ thống chỉ tiêu thống kê quốc gia, cùng với ngày càng hoàn thiện hơn việc tính GDP hàng quý, hàng năm./.
“Giáo sư lâu năm của Đại học Harvard, nhà khoa học chính trị có tầm ảnh hưởng và là thầy của nhiều thế hệ các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau... ” Đó là những lời đánh giá trân trọng mà trường Đại học Harvard dành đến Samuel Huntington, người từng giảng dạy 58 năm Harvard, là một trong những nhà chính trị học nổi tiếng nhất thế giới đương đại.
Cuộc khủng hoảng tài chính hiện giờ khiến nhiều người đã từng sống trong những ngày tồi tệ của cuộc Đại khủng hoảng những năm 30 của thế kỷ trước không khỏi bị ám ảnh bởi nỗi lo về một sự kiện tương tự sẽ tái diễn trên đất Mỹ. Trong câu chuyện dưới đây, tác giả đã ghi lại những suy nghĩ của người dân ở Lexington, Hoa Kỳ.
Vào ngày 5/11/2008, trong lúc viếng thăm Trường Kinh tế Luân Đôn (London School of Economics) nổi tiếng, nữ hoàng Anh Elizabeth II hỏi các nhà kinh tế hiện diện: “Tại sao không ai tiên đoán được cuộc khủng hoảng tín dụng hiện nay?”. (Nghe đâu hoàng gia đã mất ít nhất 50 triệu Bảng Anh vì cuộc khủng hoảng này).
Co cụm là hiện tượng nhiều công ty cùng nhóm ngành quay tụ trong một phạm vi rất gần nhau, và như một phương tiện để các công ty nhỏ được hưởng lợi ích của sự giảm bớt chi phí sản xuất thường chỉ dành cho các công ty lớn. Bài viết dưới đây đề cập tới hiện tượng co cụm của ngành ngân hàng.
Trong kinh doanh, khi một dạng thức đã trở nên lỗi thời, ngay lập tức, quy trình tái tạo sẽ hoạt động để hình thành nên một dạng thức mới thay thế. Các nhà kinh tế đã mô tả mô hình mới này bằng nhiều cách khác nhau, một trong số đó là sử dụng cấu trúc tế bào với nguồn nhân lực như một động lực phát triển kinh tế. Người ta gọi đó là học thuyết kinh tế tế bào.
Trong một nền kinh tế thị trường, một số người không có các khả năng hoặc các nguồn lực khác để kiếm sống. Trái lại, một số khác lại được hưởng nhiều lợi lộc vì thừa hưởng tài sản hay có tài năng, hoặc do họ biết kết hợp với gia đình và bạn bè về mặt kinh doanh, chính trị hay xã hội.
Nếu các thị trường và hệ thống thị trường là hiệu quả, tại sao lại để cho chính phủ nhúng tay vào hoạt động của họ? Tại sao họ không áp dụng một chính sách gọi là laissez-faire (chính sách để mặc tư nhân tự kinh doanh- thị trường tự do) và cho phép các thị trường tư nhân hoạt động không chịu bất cứ sự can thiệp nào của nhà nước?
Để giành giật thị trường, một số công ty sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn: tình báo, gây xào xáo nội bộ đối phương, tung tin thất thiệt..., Đôi khi còn có sự thông đồng của các cơ quan tình báo của quốc gia sở tại.
Trong các thị trường hàng hóa, dịch vụ và lao động, giá cả được thể hiện dưới hình thái tiền tệ nào đó, hay gọi là đồng tiền. Nhưng chính tiền tệ cũng được mua bán trong các nền kinh tế thị trường, bởi vì một số người muốn dành tiền để sử dụng trong tương lai, trong khi một số người khác – bao gồm cả các nhà doanh nghiệp – muốn vay tiền để sử dụng ngay. Cái giá để được quyền sử dụng số tiền đó – gọi là lãi suất – được xác định trong các thị trường trao đổi tài chính.
Bằng cách theo đuổi các lợi ích riêng trong một thị trường mở và cạnh tranh, người tiêu dùng, nhà sản xuất và người lao động đã sử dụng các nguồn lực kinh tế của họ theo cách tạo nên giá trị lớn nhất cho nền kinh tế quốc gia – ít nhất là dưới dạng thỏa mãn nhu cầu của nhiều người hơn. Người đầu tiên chỉ ra thực tế này một cách có hệ thống là một triết gia người Scotland, Adam Smith, người đã phát hành cuốn sách nổi tiếng nhất của mình là “Tìm hiểu bản chất và nguyên nhân sự giàu có của các quốc gia” vào năm 1776. Smith là nhà kinh tế học cổ điển vĩ đại đầu tiên, và là một trong những người đầu tiên mô tả được cách thức một nền kinh tế dựa trên một hệ thống thị trường có thể thúc đẩy tính hiệu quả kinh tế và tự do cá nhân, bất kể người dân của nó siêng năng hay lười biếng.
Ở hai nền kinh tế thị trường và kinh tế chỉ huy mà có mức độ công nghiệp hóa như nhau thì dòng người lao động trong bất kỳ ngày làm việc nào cũng rất giống nhau. Nhưng một lần nữa, lại có những sự khác biệt ẩn chứa sau cơ chế hoạt động của hai nền kinh tế này và chúng có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều so với sự giống nhau bên ngoài.
Như chúng ta đã thấy, sự thành công của một doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào việc thỏa mãn khách hàng bằng cách sản xuất những sản phẩm mà họ muốn, và bán các hàng hóa và dịch vụ với giá cả có thể cạnh trạnh được với các doanh nghiệp khác. Để làm được điều này các doanh nghiệp cần phải giải đáp một cách cẩn thận một trong những vấn đề quan trọng nhất mà mọi cơ chế kinh tế phải đối mặt: đó là làm thế nào để một xã hội có thể sản xuất hàng hóa và dịch vụ một cách hiệu quả nhất? Trong nền kinh tế thị trường, điều đó có nghĩa là làm sao đạt được giá trị đầu ra tối đa từ các yếu tố đầu vào mà các nhà sản xuất sử dụng.
Người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường và kinh tế chỉ huy phải đưa ra nhiều loại quyết định giống nhau: họ mua thực phẩm, quần áo, nhà cửa, phương tiện đi lại và giải trí trong giới hạn khả năng tài chính của mình, và họ mong muốn có khả năng mua nhiều hơn nữa. Tuy nhiên, người tiêu dùng có vai trò quan trọng hơn trong cơ chế hoạt động tổng quát của nền kinh tế thị trường so với vai trò của họ trong nền kinh tế chỉ huy. Thực tế là các nền kinh tế thị trường đôi khi được miêu tả như là các hệ thống thuộc “chủ quyền của người tiêu dùng” vì các quyết định chi tiêu hàng ngày theo sự lựa chọn của người tiêu dùng sẽ quyết định một phần lớn đến việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ gì trong nền kinh tế. Điều này xảy ra như thế nào?
Các tỷ phú trên thế giới đều có bí quyết riêng để đạt được thành công trong cuộc sống. Họ không ngại chia sẻ với mọi người, bởi không phải ai cũng có thể làm được theo đúng những “công thức” đó.
Trong khi nhiều công ty Trung Quốc tìm cách bắt chước thành công của Lenovo trong xây dựng thương hiệu toàn cầu, Jianlibao và Li Ning là minh chứng rõ ràng cho việc, tham vọng sẽ không bao giờ đạt được nếu không chú trọng đến tiếp thị. Thành - bại trong làm thương hiệu của DN Trung Quốc có thể là bài học cho Việt Nam.
Nhiều năm gần đây, nghề nấu cỗ phát triển khá rầm rộ. Nhiều người thấy hấp dẫn bởi thu nhập nghề này đã đứng ra tổ chức, thuê người làm dịch vụ, nhận đơn hàng. Tuy nhiên, với tính chất và đặc thù riêng thì nghề này xem ra cũng rất "kén " người.
Tận dụng quả dại trên rừng làm rượu vang cao cấp, trồng rau sạch và cho thuê nông trại thư giãn, bán phần mềm tiết kiệm pin... nhiều bạn trẻ đã biến ý tưởng ảo thành dự án trị giá hàng tỷ đồng.
DN có vốn cũng không dám mạo hiểm đầu tư vào lĩnh vực phân phối nếu như không tìm được đối tác nước ngoài có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Từng giảng dạy tại Đại học Bách khoa Budapest (Hungary), công tác ở Viện Kỹ thuật quân sự, Tổng cục Điện tử Việt Nam..., Tiến sĩ Nguyễn Quang A rẽ cuộc đời sang một hướng khác: Đi làm "con buôn".
Lâu nay, việc nông dân nuôi nhím, rắn, kỳ đà... để làm giàu là chuyện thường, nhưng nuôi chồn thì rất ít thấy, nhất là với ý muốn nuôi chồn để... bán cà phê thượng hạng.
Vương Tuyết Hồng luôn là đề tài để bàn luận kể từ ngày bà xuất hiện trên thương trường. Bà khởi nghiệp bằng tiền thế chấp căn nhà mẹ tặng, bà đã lập nên 2 con rồng của Đài Loan: Công ty sản xuất chip tích hợp VIA Technologies và nhà sản xuất điện thoại HTC.
Donald Trump, tỷ phú người Mỹ xếp thứ 17 trong danh sách những người giàu nhất thế giới của Forbes năm 2011 đã dành 7 lời khuyên cho những người mới bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh.
Sau nhiều ngày tranh cãi với các cổ đông, đặc biệt là quỹ Third Point, về chuyện bằng cấp giả mạo của CEO Scott Thompson, cuối tuần qua, Yahoo đã bổ nhiệm ông Ross Levinsohn lên làm quyền CEO thay ông Thompson.