Bảng 3- Cơ cấu thành phần kinh tế (% GDP). Sắp xếp lại đổi mới khu vực kinh tế Nhà nước, phát huy tiềm năng khu vực kinh tế ngoài quốc doanh
Từ thực tế kém hiệu quả của khu vực kinh tế nhà nước, chương trình đối thoại chính sách đã gọi đây là những khuyết tật có tính chất cấu trúc của nền kinh tế Việt Nam và kiến nghị phải đẩy nhanh tiến độ thực hiện cam kết WTO để tạo áp lực khuyến khích doanh nghiệp nhà nước trở nên có tính cạnh tranh hơn7.
2.4. Phấn đấu đạt mức cao nhất các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm năm (2006 – 2010)
Nghị quyết Quốc hội đặt chỉ tiêu GDP năm 2010 tăng 6,5%. Việt Nam đã vượt ngưỡng nước có thu nhập thấp với mức thu nhập bình quân đầu người 1024 USD/người. Năm 2010, GDP tăng 2,1 lần so với 2000, tổng kim ngạch xuất khẩu tăng 6% so với năm 2009, tổng vốn đầu tư toàn xã hội bằng 41% GDP, chỉ số giá tiêu dùng không quá 7%, tạo việc làm cho 1,6 triệu lao động, trong đó đưa 8,5 vạn lao động đi làm việc ở nước ngoài, giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 10%, giảm tỷ lệ sinh 0,2%, cả nước đạt chuẩn phổ cập trung học phổ thông cơ sở... Tại Nghị quyết này, Quốc hội cũng đưa ra mục tiêu sử dụng nguồn lực tài chính nhà nước để hình thành quỹ kích thích kinh tế phục vụ mục tiêu phát triển trung hạn và dài hạn, lưu ý Chính phủ cần có biện pháp điều hòa thận trọng, linh hoạt chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ để góp phần phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế, tăng tính ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm giá trị đồng tiền. Thực hiện nhiều cơ chế kết hợp nguồn vốn đầu tư từ Nhà nước và thu hút các nguồn vốn khác để tăng đầu tư cho nông nghiệp nông thôn. Tăng đầu tư Nhà nước cho các tỉnh nghèo, miền núi, những địa phương khó có điều kiện thu hút đầu tư kết cấu hạ tầng bằng các nguồn vốn khác. Thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện nghèo. Chú trọng đầu tư cho dân sinh và kinh tế biển đảo; tập trung đầu tư, xử lý có hiệu quả các điểm ùn tắc giao thông trọng điểm, tuyến đê kè xung yếu có nguy cơ sạt lở cao, vùng úng ngập nặng nề thường xuyên. Tăng cường công tác quản lý thu hút vốn đầu tư nước ngoài, khắc phục tình trạng cục bộ, địa phương, có chính sách khuyến khích đầu tư vào những ngành, lĩnh vực sản xuất tạo ra giá trị gia tăng cao và có khả năng đẩy mạnh xuất khẩu, điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế với thời gian và mức độ hỗ trợ thích hợp.
2.5. Lời kết
Năm 2010, kết thúc kế hoạch 5 năm 2006 – 2010, kết thúc thập niên đầu của thế kỷ XXI, là năm kết thúc chỉ đạo xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội theo 2 chiến lược. Trong chiến lược đầu tiên – chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội đến năm 2000 - Đảng ta đã chỉ rõ “Phát triển kinh tế xã hội theo con đường củng cố độc lập dân tộc và xây dựng CNXH ở nước ta là quá trình thực hiện dân giàu, nước mạnh, tiến lên hiện đại trong một xã hội nhân dân làm chủ, nhân ái, có văn hóa, có kỷ cương, xóa bỏ áp bức, bất công, tạo điều kiện cho mọi người có cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do con người. Chiến lược kinh tế - xã hội đưa con người vào vị trí trung tâm, giải phóng sức sản xuất, khơi dậy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, mỗi tập thể lao động và của cả cộng đồng dân tộc...”. Từ đó, rút ra nhận xét:
Thứ nhất, quan niệm về phát triển: Trước đây coi phát triển hạn hẹp chỉ là tăng trưởng kinh tế. Ngày nay coi việc phát triển là chú trọng đến cá nhân con người, đến hiệu quả kinh tế - xã hội và chính trị ổn định, với nền hòa bình vững chắc. Trước đây phát triển tập trung vào tăng trưởng kinh tế đã dẫn đến bất bình đẳng xã hội. Ngày nay phát triển còn phải tập trung vào các vấn đề công ăn việc làm, thu nhập của người lao động, công bằng, vấn đề bình đẳng giới... nên đã đạt được những thành tựu đáng kể8.
Thứ hai, về chiến phát triển: sau Hội nghị lần thứ 11 Ban CHTƯ Đảng khóa X, chúng ta đang bắt đầu hoàn thiện thêm một bước chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011 – 2020). Quán triệt các quan điểm:
- Phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt, là cơ sở vững chắc để phát triển nhanh trong quá trình thực hiện chiến lược;
- Đổi mới đồng bộ các lĩnh vực vì mục tiêu xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh;
- Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và mục tiêu của sự phát triển;
- Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đồng thời với việc hoàn thiện quan hệ sản xuất và thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN;
- Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Kế thừa những thành quả đã đạt được, các giải pháp chiến lược sau đây cần tiếp tục:
- Công nghiệp hóa, hiện đại hóa: Giải pháp trung tâm để đạt mục đích đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại;
- Phát triển kinh tế nhiều thành phần: giải pháp nhất quán để giải phóng, phát huy mọi lực lượng sản xuất;
- Tiếp tục xác lập đồng bộ các yếu tố thị trường, đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế nhà nước, hình thành đầy đủ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, xác lập chế độ kinh tế “CNXH thị trường” trên đất nước ta;
- Giải quyết tốt các vấn đề xã hội.
Thứ ba, trước thềm Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng, nhìn lại chặng đường gần 1/4 thế kỷ thực hiện đường lối đổi mới, thực hiện trọn vẹn 2 chiến lược phát triển kinh tế - xã hội với các kế hoạch 5 năm ở những thời điểm khá quyết định của cách mạng Việt Nam, với tinh thần tiếp tục đổi mới xây dựng đất nước, quá độ lên CNXH, qua nghiên cứu quán triệt Thông báo Hội nghị lần thứ 11 BCHTƯ Đảng, mỗi người chúng ta cần bám sát thực tiễn của đất nước và thời đại, kế thừa những nội dung vẫn còn nguyên giá trị của cương lĩnh năm 1991, bổ sung những vấn đề đã được các Đại hội BCHTƯ, Bộ Chính trị từ khóa VI đã kết luận. Những nội dung đã rõ, được thực tiễn chứng minh là đúng, bổ sung hoặc viết lại những điểm không còn phù hợp về quan điểm, giải pháp, chỉ tiêu con số ghi trong chiến lược.
(1) Đảng Cộng sản Việt nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.Nxb. Chính trị Quốc gia. H. 2006, tr. 145 – 146.
(2) Như trên.
(3) Thông báo khoa học XXI, Trường Đại học kinh tế quốc dân. Hà nội, Tạp chí kinh tế và phát triển 6/1999.
(4) Những đóng góp mới của đề tài KX. 01 – 04. Tạp chí phát triển kinh tế Đại học kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, 5/2005.
(5) Xem Chú thích 1.
(6) Đảng Cộng sản Việt nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X.Nxb. Chính trị Quốc gia. H. 2006, tr. 229.
(7) Bài thảo luận chính sách số 2, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright.
(8) Tháng 9/2000, cùng với 189 vị đứng đầu Nhà nước và Chính phủ các quốc gia thành viên LHQ, Việt nam cam kết thực hiện Tuyên bố thiên niên kỷ (MDG ) và tháng 9/2005đã thành lập Hội đồng quốc gia về phát triển bền vững.
(Theo GS, TSKH Đỗ Văn Điển - Học viện hành chính, Học viện chính trị hành chính quốc gia Hồ Chí Minh // Báo Nghiên cứu Lập Pháp Online)
Kinh tế thương hiệu là một thực tế, đã hình thành trong những phân khúc của hậu tư bản. Trong khi khái niệm kinh tế tri thức còn khá mơ hồ thì thương hiệu đã trở thành một thế lực kinh tế mạnh mẽ.
Nền kinh tế toàn cầu không thể thoát khỏi quy luật tăng trưởng rồi suy tàn. Khi khủng hoảng xảy ra, người ta coi đó như hậu quả tất yếu sau một kỳ tăng trưởng nóng và là dấu hiệu tốt cho thấy một sức sống mới sắp bắt đầu.
Trong báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội khóa 12 kỳ họp thứ 6 có nêu vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế. Vấn đề không mới. Đó là việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trong lý luận quản lý Nhà nước có đề cập đến các nội hàm cấu trúc vĩ mô của nền kinh tế quốc dân, cơ hội cho Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế và con đường thực hiện sự can thiệp đó. Bài viết này tập trung khai thác các nội hàm nói trên từ thực tế đất nước nhiều năm qua, hy vọng gọi ý cho việc phấn đấu đạt mục tiêu chung.
Khi cuộc khủng hoảng kinh tế làm cho niềm tin của mọi người cũng bị khủng hoảng trầm trọng theo, bạn phải làm gì để giữ vững niềm tin? Mc Kee sẽ tư vấn cho bạn bằng một phương trình mang tên hi vọng...
Trong kinh doanh, khi một dạng thức đã trở nên lỗi thời, ngay lập tức, quy trình tái tạo sẽ hoạt động để hình thành nên một dạng thức mới thay thế. Các nhà kinh tế đã mô tả mô hình mới này bằng nhiều cách khác nhau, một trong số đó là sử dụng cấu trúc tế bào với nguồn nhân lực như một động lực phát triển kinh tế. Người ta gọi đó là học thuyết kinh tế tế bào.
Co cụm là hiện tượng nhiều công ty cùng nhóm ngành quay tụ trong một phạm vi rất gần nhau, và như một phương tiện để các công ty nhỏ được hưởng lợi ích của sự giảm bớt chi phí sản xuất thường chỉ dành cho các công ty lớn. Bài viết dưới đây đề cập tới hiện tượng co cụm của ngành ngân hàng.
Vào ngày 5/11/2008, trong lúc viếng thăm Trường Kinh tế Luân Đôn (London School of Economics) nổi tiếng, nữ hoàng Anh Elizabeth II hỏi các nhà kinh tế hiện diện: “Tại sao không ai tiên đoán được cuộc khủng hoảng tín dụng hiện nay?”. (Nghe đâu hoàng gia đã mất ít nhất 50 triệu Bảng Anh vì cuộc khủng hoảng này).
Cuộc khủng hoảng tài chính hiện giờ khiến nhiều người đã từng sống trong những ngày tồi tệ của cuộc Đại khủng hoảng những năm 30 của thế kỷ trước không khỏi bị ám ảnh bởi nỗi lo về một sự kiện tương tự sẽ tái diễn trên đất Mỹ. Trong câu chuyện dưới đây, tác giả đã ghi lại những suy nghĩ của người dân ở Lexington, Hoa Kỳ.
“Giáo sư lâu năm của Đại học Harvard, nhà khoa học chính trị có tầm ảnh hưởng và là thầy của nhiều thế hệ các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau... ” Đó là những lời đánh giá trân trọng mà trường Đại học Harvard dành đến Samuel Huntington, người từng giảng dạy 58 năm Harvard, là một trong những nhà chính trị học nổi tiếng nhất thế giới đương đại.
GDP (Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm trong nước) đã dần dần trở thành quen thuộc không chỉ với các nhà kinh tế, các nhà quản lý và điều hành từ Trung ương tới địa phương, các doanh nghiệp mà cả với người dân nước ta được bắt đầu từ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 183/TTg ngày 25/12/1992 về việc Việt Nam chính thức áp dụng Hệ thống Tài khoản quốc gia (SNA) trên phạm vi cả nước.
Các tỷ phú trên thế giới đều có bí quyết riêng để đạt được thành công trong cuộc sống. Họ không ngại chia sẻ với mọi người, bởi không phải ai cũng có thể làm được theo đúng những “công thức” đó.
Trong khi nhiều công ty Trung Quốc tìm cách bắt chước thành công của Lenovo trong xây dựng thương hiệu toàn cầu, Jianlibao và Li Ning là minh chứng rõ ràng cho việc, tham vọng sẽ không bao giờ đạt được nếu không chú trọng đến tiếp thị. Thành - bại trong làm thương hiệu của DN Trung Quốc có thể là bài học cho Việt Nam.
Nhiều năm gần đây, nghề nấu cỗ phát triển khá rầm rộ. Nhiều người thấy hấp dẫn bởi thu nhập nghề này đã đứng ra tổ chức, thuê người làm dịch vụ, nhận đơn hàng. Tuy nhiên, với tính chất và đặc thù riêng thì nghề này xem ra cũng rất "kén " người.
Tận dụng quả dại trên rừng làm rượu vang cao cấp, trồng rau sạch và cho thuê nông trại thư giãn, bán phần mềm tiết kiệm pin... nhiều bạn trẻ đã biến ý tưởng ảo thành dự án trị giá hàng tỷ đồng.
DN có vốn cũng không dám mạo hiểm đầu tư vào lĩnh vực phân phối nếu như không tìm được đối tác nước ngoài có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Từng giảng dạy tại Đại học Bách khoa Budapest (Hungary), công tác ở Viện Kỹ thuật quân sự, Tổng cục Điện tử Việt Nam..., Tiến sĩ Nguyễn Quang A rẽ cuộc đời sang một hướng khác: Đi làm "con buôn".
Lâu nay, việc nông dân nuôi nhím, rắn, kỳ đà... để làm giàu là chuyện thường, nhưng nuôi chồn thì rất ít thấy, nhất là với ý muốn nuôi chồn để... bán cà phê thượng hạng.
Vương Tuyết Hồng luôn là đề tài để bàn luận kể từ ngày bà xuất hiện trên thương trường. Bà khởi nghiệp bằng tiền thế chấp căn nhà mẹ tặng, bà đã lập nên 2 con rồng của Đài Loan: Công ty sản xuất chip tích hợp VIA Technologies và nhà sản xuất điện thoại HTC.
Donald Trump, tỷ phú người Mỹ xếp thứ 17 trong danh sách những người giàu nhất thế giới của Forbes năm 2011 đã dành 7 lời khuyên cho những người mới bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh.
Sau nhiều ngày tranh cãi với các cổ đông, đặc biệt là quỹ Third Point, về chuyện bằng cấp giả mạo của CEO Scott Thompson, cuối tuần qua, Yahoo đã bổ nhiệm ông Ross Levinsohn lên làm quyền CEO thay ông Thompson.