Cuộc khủng hoảng tài chính hiện giờ khiến nhiều người đã từng sống trong những ngày tồi tệ của cuộc Đại khủng hoảng những năm 30 của thế kỷ trước không khỏi bị ám ảnh bởi nỗi lo về một sự kiện tương tự sẽ tái diễn trên đất Mỹ. Trong câu chuyện dưới đây, tác giả đã ghi lại những suy nghĩ của người dân ở Lexington, Hoa Kỳ.
Nhớ lại "thập kỷ đen tối"
Đầu tiên, chúng ta đến với câu chuyện của cụ ông John Quinlan. Từ những năm tháng đầu đời, ông và những người bạn thuở thiếu thời đã quen với cuộc sống tằn tiện. Họ luôn biết nâng niu từng đồng đôla: “Chúng tôi luôn quý trọng giá trị của đồng tiền và sử dụng nó một cách khôn ngoan nhất”.
Dòng người xếp hàng chờ phân phát bánh mì trên đường phố New York trong cuộc Đại khủng hoảng 1929
Năm nay đã bước sang tuổi 92, cụ ông Quinlan nói rằng: “Cuộc khủng hoảng tài chính ngày nay khiến tôi không khỏi rợn người, khi mà dường như chúng ta chẳng có một lối thoát nào cả”.
Là nhân chứng sống trong thập kỷ đen tối nhất của nền kinh tế Mỹ, ông cùng những người dân tại bang New England vẫn còn rùng mình khi nhớ về sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng, những hàng dài người chờ tiếp tế cùng với tình trạng thất nghiệp tràn lan.
Thảm cảnh bắt đầu từ ngày thứ ba đen tối – ngày 29/10/1929 - được đánh dấu bởi sự kiện thị trường chứng khoán Mỹ sụp đổ. Lúc này, khi nước Mỹ đang oằn mình chống đỡ hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính, một câu hỏi được đặt ra là: “Liệu một dân tộc vốn chỉ quen được lợi nhiều sẽ sống sao khi phải đối mặt với tổn thất quá lớn vừa qua?”
Nỗi lo ám ảnh
Nỗi lo sợ của họ ngày một lớn dần sau khi kênh truyền hình CNN đã công bố kết quả thăm dò dư luận cho thấy cứ 10 người được hỏi thì tới 4 người cho rằng bóng dáng của một cuộc đại khủng hoảng đang thấp thoáng ngoài cửa sổ.
Một cư dân lâu năm của vùng Lowell - cụ bà Irene Morris nói rằng “thời xưa, chúng tôi không được sống đầy đủ như giới trẻ bây giờ. Và khi cuộc Đại khủng hoảng ập đến cùng sự tàn khốc của nó, chúng tôi đã bị đẩy vào cảnh khốn cùng. Cuộc sống gian khổ đã rèn luyện cho lớp thanh niên ngày đó đức sống tằn tiện.”
“Thế nhưng, thế hệ con cháu chúng tôi - vốn sinh ra trong điều kiện đầy đủ - chắc chắn sẽ phải rất khổ sở để chống chọi với cuộc khủng hoảng hiện giờ. Tôi thật sự thấy lo bởi chúng chưa hề phải đối mặt với cảnh trắng tay và chắc cũng không thể mòn mỏi chờ đợi cho tới ngày tình hình sáng sủa trở lại như chúng tôi đã từng chờ đợi.”
Cụ Winifred DiTommaso - năm nay 77 tuổi - sinh ra và lớn lên tại vùng Lawrence trong những năm 30 thế kỷ trước, hiện đang làm việc bán thời gian tại Hội Người cao tuổi Lawrence. Cuộc khủng hoảng tài chính khiến cụ không tránh khỏi liên tưởng tới những gì xảy ra trước kia:
“Khủng hoảng là lúc bạn không có tiền trong tay, bởi bạn còn phải lo đóng thuế, đóng bảo hiểm cùng chi phí y tế. Khủng hoảng là lúc bạn cảm thấy mình chỉ đang tồn tại mà thôi. Cụ thân sinh ra tôi chưa bao giờ có đủ tiền để mua nổi một căn nhà. Bà mới bất hạnh làm sao.”
Cụ Bill Crawford, 82 tuổi, một kỹ sư về hưu sinh ra tại Buffalo và hiện đang sống tại Topsfield. Năm 1929, khi cơn địa chấn của thị trường chứng khoán nổ ra, cụ chỉ mới lẫm chẫm biết đi. Thế nhưng, những gì diễn ra trong khoảng thời gian 10 năm sau đó thì không thể nào phai mờ trong tâm trí cụ:
Những người từng trải qua cơn Đại khủng hoảng 1929 gờ đây lại sống lại cảm giác khủng khiếp đó (Ảnh minh họanguồn: media2.web.britannica.com)
“Hoạ hoằn lắm, tôi mới thấy lò cao của một hai nhà máy thép ở vùng Buffalo hoạt động trong khi vô số các ống khói còn lại thì lạnh tanh. Tình cảnh đó đã đẩy những công nhân thất nghiệp phải đi cào tuyết trên các con phố để nhặt nhạnh từng đồng.”
Cụ Crawford lo lắng rằng nền kinh tế lúc này đang tiềm ẩn một cơn hoảng loạn. “Theo tôi, những ngày tồi tệ nhất vẫn chưa tới. Khi người dân phải chứng kiến cảnh của cải trong nhà dần tiêu tán còn mình thì mất việc và nợ công ty thẻ tín dụng tới 20.000 USD – khi đó cuộc khủng hoảng mới thực sự bắt đầu.”
Thế nhưng, Richard Sylla - nhà kinh tế và lịch sử tài chính đang giảng dạy tại Trường Kinh doanh Stern - trực thuộc Đại học New York lại cho rằng: “Đúng là chúng ta đang trải qua một giai đoạn hết sức tồi tệ nhưng việc Đại khủng hoảng sẽ tái diễn là điều không thể.”
Trong thập niên 30 của thế kỷ trước, nền kinh tế Mỹ tụt dốc không phanh dẫn đến cuộc Đại khủng hoảng là bởi chính quyền liên bang gần như đã không có bất kỳ động thái gì trước việc các ngân hàng lần lượt kéo nhau sụp đổ.
Tình hình hiện nay khác trước rất nhiều. Cục Dự trữ Liên bang (FED) và Bộ Tài chính đã nhập cuộc: họ đã làm tất cả những gì có thể để giảm thiểu tối đa các tác động xấu của khủng hoảng tài chính đối với nền kinh tế, kể cả việc bơm hàng tỷ đôla vào thị trường tài chính và đứng ra bảo lãnh các khoản tiền gửi ngân hàng cũng như tại các quỹ tương hỗ.
Peter Temin, nhà lịch sử kinh tế đang công tác tại Viện Công nghệ Massachusettes, nhận định rằng: viễn cảnh kinh tế quả có ảm đạm, nhưng những ngày đen tối như trong thập niên 30 không thể xảy đến:
“Có thể thấy được sự khác biệt rõ ràng trong cách chúng ta ứng phó với cuộc Đại khủng hoảng năm nào và khủng hoảng kinh tế ngày nay. Trong những năm 30, chúng ta đã bị sốc nặng khi Đại khủng hoảng ập đến, lúng túng đưa ra những chính sách cẩu thả khiến tình hình ngày một tồi tệ”.
“Ngày nay, chúng ta cũng bị sốc trước cơn địa chấn trong những tuần qua. Tuy nhiên, sau đó, chúng ta đã lấy lại bình tĩnh để đưa ra những chính sách hợp lý. Chính vì vậy, quá lắm chúng ta chỉ có thể phải đối mặt với suy thoái kinh tế thay vì Đại khủng hoảng lần II”.
Hãy làm một vài so sánh như sau. Từ mức đỉnh 381 điểm vào tháng 09 năm 1929, chỉ số công nghiệp Dow Jones tụt xuống còn 41 điểm vào tháng 07 năm 1932, tỉ lệ giảm tận 89%. Năm 1933, theo số liệu của Bộ Lao động Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp lên tới 25%. Hiện giờ, chỉ số Dow Jones chỉ bị mất 40% giá trị so với mức đỉnh điểm năm 2007 và tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ hiện giờ chỉ là 6%.
Theo lời Richard S. Tedlow – nhà lịch sử kinh doanh đang giảng dạy tại Trường Kinh doanh Harvard, chẳng phải đợi tới năm 1929, mà trước đó, những dấu hiệu của một hiểm hoạ đã ngày một lộ rõ, trong đó không thể không nhắc tới sự trượt dốc của ngành xây dựng và sản xuất ô tô - vốn rất thịnh vượng trong thập niên 20.
“Thị trường chứng khoán lâm nguy khiến tình trạng thất nghiệp tràn lan. Việc kiếm tiền không còn dễ dàng như trước; hầu bao của chúng ta cứ ngày một co lại.”
Một thói quen bị thay đổi
Chiến tranh thế giới thứ II (1939 – 1945) nổ ra; nhờ là nước ngoài vòng chiến sự, cộng với việc cung cấp vũ khí, đạn dược cho các nước tham chiến, nền kinh tế Hoa Kỳ dần được chấn hưng. Nhờ vậy, nhiều người dân Mỹ đã thoát khỏi tình trạng thất nghiệp. Thế nhưng, Đại khủng hoảng có tác động lớn đến độ nó đã thay đổi vĩnh viễn thói quen chi tiêu của cả một thế hệ người Mỹ.
Cụ bà W. Schroeder 94 tuổi, cư dân của vùng Burlington, vẫn nhớ như in tình thế ngàn cân treo sợi tóc khi đó. Với cụ, mọi thứ đều có giá của nó và chẳng có gì là của từ trên trời rơi xuống.
Tuy nhiên, theo như nhiều người "muôn năm cũ",tình trạng hiện nay chỉ là sự suy thoái kinh tế chứ chưa tới mức độ khủng hoảng như những năm 30 của thế kỷ trước
“Tôi chắt chiu từng đồng xu một và nếu như nhìn thấy một đồng bạc nhỏ rơi trên sàn nhà, chắc chắn, tôi sẽ cúi xuống nhặt nó lên. Điều đó khác hẳn cách giới trẻ ngày nay sử dụng thẻ tín dụng. Tôi tin rằng hệ thống thẻ tín dụng đã góp phần làm hư một thế hệ bởi nó khuyến khích con người ta sống xa hoa ngoài khả năng chi trả của mình”.
“Bọn trẻ ngày nay là thế, từ khi có thẻ tín dụng, chỉ cần chúng thích thứ gì thì chúng sẽ phải mua bằng được. Thay vì tích góp, dành dụm cho tới khi có đủ tiền, chúng không ngần ngại quẹt thẻ để có được thứ mình muốn.”
Theo cụ Quinlan - người đã nhắc đến ở trên, lớp trẻ ngày nay chưa sẵn sàng đón nhận những điều tồi tệ mà thế hệ những người như ông đã trải qua. Nếu một lần nữa, tiếp sau cú sốc tài chính hiện giờ, nước Mỹ lại trải qua tình trạng tồi tệ giống như những gì đã xảy ra trong cuộc Đại khủng hoảng thì người ta sẽ lại than rằng do đâu? - Họ đã từng có tất cả mà nay lại trắng tay.
Nước Mỹ nói riêng và cả thế giới nói chung như ngồi trên đống lửa. Thế nhưng, vẫn có những người bình tĩnh đến lạ kỳ. Cụ Donald White - năm nay gần 100 tuổi, người cha của cụ đã từng mất đi công việc kinh doanh ôtô trong những năm 30 thế kỷ trước – nói rằng: cụ chẳng muốn “nhai đi nhai lại” chuyện quá khứ làm gì.
“Ở cái tuổi gần đất xa trời, hơn nữa đã từng nếm trải và sống sót qua những ngày tháng tồi tệ nhất của cuộc Đại khủng hoảng, há chẳng còn điều gì trên đời khiến tôi phải lo sợ.”
Vào ngày 5/11/2008, trong lúc viếng thăm Trường Kinh tế Luân Đôn (London School of Economics) nổi tiếng, nữ hoàng Anh Elizabeth II hỏi các nhà kinh tế hiện diện: “Tại sao không ai tiên đoán được cuộc khủng hoảng tín dụng hiện nay?”. (Nghe đâu hoàng gia đã mất ít nhất 50 triệu Bảng Anh vì cuộc khủng hoảng này).
Co cụm là hiện tượng nhiều công ty cùng nhóm ngành quay tụ trong một phạm vi rất gần nhau, và như một phương tiện để các công ty nhỏ được hưởng lợi ích của sự giảm bớt chi phí sản xuất thường chỉ dành cho các công ty lớn. Bài viết dưới đây đề cập tới hiện tượng co cụm của ngành ngân hàng.
Trong kinh doanh, khi một dạng thức đã trở nên lỗi thời, ngay lập tức, quy trình tái tạo sẽ hoạt động để hình thành nên một dạng thức mới thay thế. Các nhà kinh tế đã mô tả mô hình mới này bằng nhiều cách khác nhau, một trong số đó là sử dụng cấu trúc tế bào với nguồn nhân lực như một động lực phát triển kinh tế. Người ta gọi đó là học thuyết kinh tế tế bào.
Khi cuộc khủng hoảng kinh tế làm cho niềm tin của mọi người cũng bị khủng hoảng trầm trọng theo, bạn phải làm gì để giữ vững niềm tin? Mc Kee sẽ tư vấn cho bạn bằng một phương trình mang tên hi vọng...
Trong báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội khóa 12 kỳ họp thứ 6 có nêu vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế. Vấn đề không mới. Đó là việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trong lý luận quản lý Nhà nước có đề cập đến các nội hàm cấu trúc vĩ mô của nền kinh tế quốc dân, cơ hội cho Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế và con đường thực hiện sự can thiệp đó. Bài viết này tập trung khai thác các nội hàm nói trên từ thực tế đất nước nhiều năm qua, hy vọng gọi ý cho việc phấn đấu đạt mục tiêu chung.
“Giáo sư lâu năm của Đại học Harvard, nhà khoa học chính trị có tầm ảnh hưởng và là thầy của nhiều thế hệ các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau... ” Đó là những lời đánh giá trân trọng mà trường Đại học Harvard dành đến Samuel Huntington, người từng giảng dạy 58 năm Harvard, là một trong những nhà chính trị học nổi tiếng nhất thế giới đương đại.
GDP (Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm trong nước) đã dần dần trở thành quen thuộc không chỉ với các nhà kinh tế, các nhà quản lý và điều hành từ Trung ương tới địa phương, các doanh nghiệp mà cả với người dân nước ta được bắt đầu từ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 183/TTg ngày 25/12/1992 về việc Việt Nam chính thức áp dụng Hệ thống Tài khoản quốc gia (SNA) trên phạm vi cả nước.
Trong một nền kinh tế thị trường, một số người không có các khả năng hoặc các nguồn lực khác để kiếm sống. Trái lại, một số khác lại được hưởng nhiều lợi lộc vì thừa hưởng tài sản hay có tài năng, hoặc do họ biết kết hợp với gia đình và bạn bè về mặt kinh doanh, chính trị hay xã hội.
Nếu các thị trường và hệ thống thị trường là hiệu quả, tại sao lại để cho chính phủ nhúng tay vào hoạt động của họ? Tại sao họ không áp dụng một chính sách gọi là laissez-faire (chính sách để mặc tư nhân tự kinh doanh- thị trường tự do) và cho phép các thị trường tư nhân hoạt động không chịu bất cứ sự can thiệp nào của nhà nước?
Để giành giật thị trường, một số công ty sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn: tình báo, gây xào xáo nội bộ đối phương, tung tin thất thiệt..., Đôi khi còn có sự thông đồng của các cơ quan tình báo của quốc gia sở tại.
Trong các thị trường hàng hóa, dịch vụ và lao động, giá cả được thể hiện dưới hình thái tiền tệ nào đó, hay gọi là đồng tiền. Nhưng chính tiền tệ cũng được mua bán trong các nền kinh tế thị trường, bởi vì một số người muốn dành tiền để sử dụng trong tương lai, trong khi một số người khác – bao gồm cả các nhà doanh nghiệp – muốn vay tiền để sử dụng ngay. Cái giá để được quyền sử dụng số tiền đó – gọi là lãi suất – được xác định trong các thị trường trao đổi tài chính.
Bằng cách theo đuổi các lợi ích riêng trong một thị trường mở và cạnh tranh, người tiêu dùng, nhà sản xuất và người lao động đã sử dụng các nguồn lực kinh tế của họ theo cách tạo nên giá trị lớn nhất cho nền kinh tế quốc gia – ít nhất là dưới dạng thỏa mãn nhu cầu của nhiều người hơn. Người đầu tiên chỉ ra thực tế này một cách có hệ thống là một triết gia người Scotland, Adam Smith, người đã phát hành cuốn sách nổi tiếng nhất của mình là “Tìm hiểu bản chất và nguyên nhân sự giàu có của các quốc gia” vào năm 1776. Smith là nhà kinh tế học cổ điển vĩ đại đầu tiên, và là một trong những người đầu tiên mô tả được cách thức một nền kinh tế dựa trên một hệ thống thị trường có thể thúc đẩy tính hiệu quả kinh tế và tự do cá nhân, bất kể người dân của nó siêng năng hay lười biếng.
Ở hai nền kinh tế thị trường và kinh tế chỉ huy mà có mức độ công nghiệp hóa như nhau thì dòng người lao động trong bất kỳ ngày làm việc nào cũng rất giống nhau. Nhưng một lần nữa, lại có những sự khác biệt ẩn chứa sau cơ chế hoạt động của hai nền kinh tế này và chúng có ý nghĩa quan trọng hơn nhiều so với sự giống nhau bên ngoài.
Các tỷ phú trên thế giới đều có bí quyết riêng để đạt được thành công trong cuộc sống. Họ không ngại chia sẻ với mọi người, bởi không phải ai cũng có thể làm được theo đúng những “công thức” đó.
Trong khi nhiều công ty Trung Quốc tìm cách bắt chước thành công của Lenovo trong xây dựng thương hiệu toàn cầu, Jianlibao và Li Ning là minh chứng rõ ràng cho việc, tham vọng sẽ không bao giờ đạt được nếu không chú trọng đến tiếp thị. Thành - bại trong làm thương hiệu của DN Trung Quốc có thể là bài học cho Việt Nam.
Nhiều năm gần đây, nghề nấu cỗ phát triển khá rầm rộ. Nhiều người thấy hấp dẫn bởi thu nhập nghề này đã đứng ra tổ chức, thuê người làm dịch vụ, nhận đơn hàng. Tuy nhiên, với tính chất và đặc thù riêng thì nghề này xem ra cũng rất "kén " người.
Tận dụng quả dại trên rừng làm rượu vang cao cấp, trồng rau sạch và cho thuê nông trại thư giãn, bán phần mềm tiết kiệm pin... nhiều bạn trẻ đã biến ý tưởng ảo thành dự án trị giá hàng tỷ đồng.
DN có vốn cũng không dám mạo hiểm đầu tư vào lĩnh vực phân phối nếu như không tìm được đối tác nước ngoài có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Từng giảng dạy tại Đại học Bách khoa Budapest (Hungary), công tác ở Viện Kỹ thuật quân sự, Tổng cục Điện tử Việt Nam..., Tiến sĩ Nguyễn Quang A rẽ cuộc đời sang một hướng khác: Đi làm "con buôn".
Lâu nay, việc nông dân nuôi nhím, rắn, kỳ đà... để làm giàu là chuyện thường, nhưng nuôi chồn thì rất ít thấy, nhất là với ý muốn nuôi chồn để... bán cà phê thượng hạng.
Vương Tuyết Hồng luôn là đề tài để bàn luận kể từ ngày bà xuất hiện trên thương trường. Bà khởi nghiệp bằng tiền thế chấp căn nhà mẹ tặng, bà đã lập nên 2 con rồng của Đài Loan: Công ty sản xuất chip tích hợp VIA Technologies và nhà sản xuất điện thoại HTC.
Donald Trump, tỷ phú người Mỹ xếp thứ 17 trong danh sách những người giàu nhất thế giới của Forbes năm 2011 đã dành 7 lời khuyên cho những người mới bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh.
Sau nhiều ngày tranh cãi với các cổ đông, đặc biệt là quỹ Third Point, về chuyện bằng cấp giả mạo của CEO Scott Thompson, cuối tuần qua, Yahoo đã bổ nhiệm ông Ross Levinsohn lên làm quyền CEO thay ông Thompson.