Trong kinh doanh, khi một dạng thức đã trở nên lỗi thời, ngay lập tức, quy trình tái tạo sẽ hoạt động để hình thành nên một dạng thức mới thay thế. Các nhà kinh tế đã mô tả mô hình mới này bằng nhiều cách khác nhau, một trong số đó là sử dụng cấu trúc tế bào với nguồn nhân lực như một động lực phát triển kinh tế. Người ta gọi đó là học thuyết kinh tế tế bào.
Cuộc cách mạng về cách tư duy này đã diễn ra. Ở đâu đó, chúng ta đã nhìn thấy người ta chuyển từ phương thức kinh doanh chỉ dựa trên các giao dịch lỗi thời theo chiều dọc sang phương thức mới có tính luân chuyển. Ở phương thức mới, việc chia sẻ mọi nguồn lực chính là cách phát triển nền kinh tế theo chiều sâu.
Các nhà kinh tế đã mô tả mô hình mới này bằng nhiều cách khác nhau, một trong số đó là sử dụng cấu trúc tế bào với nguồn nhân lực như một động lực phát triển kinh tế. Người ta gọi đó là học thuyết kinh tế tế bào.
Cấu trúc tế bào và công việc kinh doanh có mối liên hệ nào với nhau? Coi việc các tế bào cứ phát triển không ngừng nghỉ theo cấp số nhân là một dạng thức ung thư. Chúng ta đều hiểu rằng sự phát triển không ngừng của các tế bào ung thư trong cơ thể hoàn toàn không tốt cho việc duy trì sự sống. Trong kinh doanh cũng vậy, sự phát triển quá đỗi chưa chắc bảo đảm sự bền vững như mong muốn.
Tuy nhiên, nền kinh tế hiện giờ dường như đang phát triển không có điểm dừng. Với mô hình hiện tại, chúng ta không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc đón nhận sự đình trệ để đi đến lụi tàn của nền kinh tế. Ở mọi cấp độ của nền kinh tế: từ kinh tế vĩ mô, vi mô cho tới kinh tế công ty và công cộng, tất cả đều theo đuổi đà phát triển bằng mọi giá.
Mỗi cơ thể đều có những tế bào mới phát triển và những tế bào cũ chết đi. Những tế bào mới phát triển thay thế cho những tế bào đã bị tiêu diệt. Ảnh: Corbis
Trong khi đó, nền kinh tế tế bào gợi mở một hướng phát triển hoàn toàn khác với tăng trưởng theo chiều dọc: đó là tăng trưởng có tính luân chuyển. Mỗi cơ thể đều có những tế bào mới phát triển và những tế bào cũ chết đi. Những tế bào mới phát triển thay thế cho những tế bào đã bị tiêu diệt. Cứ vậy, vòng phát triển cứ luân chuyển mãi. Chúng ta tồn tại nhờ quá trình tái tạo. Trong kinh doanh, khi một dạng thức đã trở nên lỗi thời, ngay lập tức, quy trình tái tạo hình thành nên một dạng thức mới thay thế. Sự phát triển như vậy không hề thay đổi quy mô của nền kinh tế.
Ở đây, người ta không coi tăng trưởng là sản phẩm phụ của một chu kỳ phát triển mà là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế. Tăng trưởng được xem như một trong số các giai đoạn phát triển không thể thiếu của toàn bộ chu trình phát triển. Thay vì phát triển theo chiều rộng, các công ty sẽ chú trọng phát triển theo chiều sâu bằng việc nâng cao năng lực, chất lượng trong quá trình xử lý công việc và những thành quả đem lại cho khách hàng. Khi một mô hình mới ra đời thì các mô hình cũ sẽ bị thay thế. Cũng giống như tế bào, sự phát triển giờ đây đóng vai trò tái tạo: những khâu, những mảng cần thay thế sẽ được thay thế, liên tục cắt giảm lãng phí và cải thiện xã hội.
Ví dụ, một nhà máy bia tại Ấn Độ đã áp dụng hết sức thành công tư duy nền kinh tế tế bào vào quá trình sản xuất mà không cần phải sản xuất hay bán thêm nhiều bia. Họ đã dùng chính vỏ thóc và vụn tấm từ quá trình sản xuất bia để sản xuất phân bón và năng lượng sinh học. Việc tạo ra hai thành phẩm mới từ những gì đã có của một công đoạn sản xuất chính là minh chứng về việc hạ giá thành sản xuất và tối đa hoá công dụng của các sản phẩm đầu vào.
Công ty đồ gỗ KATIKA của Thuỵ Sĩ đang tích cực trồng lại nhiều hơn số cây họ đã khai thác. Họ tái đầu tư một phần lợi nhuận thu được từ công việc kinh doanh hiện giờ vào trồng rừng nhằm đảm bảo luôn có đủ nguồn cung nguyên liệu về sau này. Trước mắt, công tác trồng rừng sẽ tạo thêm nhiều việc làm mới cho người dân địa phương cùng nhiều lợi ích lâu dài khác (chẳng hạn như: tạo môi trường sinh thái tự nhiên, giảm lượng khí CO2) đồng thời còn góp phần nâng cao giá trị của những vùng đất trước kia từng có giá trị bị giảm sút.
Trong nền kinh tế tế bào, mọi phương thức chủ chốt đều thay đổi. Người ta chú trọng nhiều hơn đến khả năng tái tạo của GDP thay vì mức tăng trưởng GDP thông thường. Tăng trưởng chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó có tính bền vững.
Thay đổi căn bản nhất của trong nền kinh tế tế bào chính là vai trò của các giao dịch sẽ dần bị lu mờ. Hiện nay, về căn bản, người ta vẫn đinh giá giá trị kinh tế dựa trên giá trị của các giao dịch. Chính vì thế, để phát triển (thậm chí là để tồn tại), chúng ta phải liên tục giao dịch, liên tục tiêu thụ bất kể quá trình đó có gây lãng phí đến đâu bởi thành công vẫn được hiểu là khả năng thực hiện càng nhiều giao dịch càng tốt. Lối suy nghĩ này khiến chúng ta bị luẩn quẩn trong mớ lý thuyết phát triển theo chiều dọc - vốn chỉ chú trọng tới tốc độ tăng trưởng mà không tính đến chất lượng tăng trưởng.
May mắn sao, Internet đã góp phần giảm bớt nhiều khâu giao dịch trong nền kinh tế. Bởi nó góp phần giảm thiểu chi phí cho việc trao đổi hàng hoá và dịch vụ nên lợi ích của nó rõ ràng vượt trội hơn hẳn các giao dịch đời thường.
Chẳng hạn, trong ngành xuất bản phẩm, qua Internet, chi phí độc giả phải bỏ ra để tiếp cận thông tin đã giảm rất nhiều trong khi đó nguồn lực lại được nhân lên nhiều lần. Điều này cũng đúng với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực khác như: âm nhạc, các ngành đòi hỏi sự sáng tạo, phương thức cho vay quy mô nhỏ so với hình thức ngân hàng truyền thống, ngành thời trang hay bán lẻ. Bất kỳ nơi đâu có sự xuất hiện của trung gian giữa nguồn tài nguyên thiên nhiên và người tiêu dùng cuối cùng, Internet đều có khả năng loại bỏ hoàn toàn vai trò của những khâu không cần thiết này.
Nhờ bỏ qua các khâu giao dịch trung gian và các nhánh phân phối truyền thống, xã hộ đang hưởng lợi ngày càng nhiều khi được tiếp cận trực tiếp tới những hàng hoá đặc biệt từ tin tức cho tới chất đốt.
Một loạt các mối quan hệ, một hệ thống tế bào có tính luân chuyển phát triển lấy cơ chế chia sẻ mang tính hợp tác trở thành chuẩn mực. Giá trị có từ các mối quan hệ chứ không thông qua các giao dịch. Có thể, thay vì mua và bán nhiều vô kể chỉ để đảm bảo tăng tốc độ phát triển, xã hội sẽ chú trọng nhiều hơn tới mô hình phát triển mang tính hợp tác và dựa trên khả năng tái tạo giá trị cho cộng đồng.
Nền kinh tế dựa trên sự chia sẻ này sẽ tuỳ thuộc rất nhiều vào khả năng đóng góp nguồn lực của cá nhân, một thị trường tự do, và một sự phân chia quyền lợi công bằng mới có thể đạt đến sự bền vững. Mỗi khi nền kinh tế có dấu hiệu đầu tư lãng phí vào những lĩnh vực không thể sinh lời, mô hình tái tạo giá trị sẽ kìm hãm lại và chúng ta không còn phải đối mặt với những thứ dù biết rõ là không cần nhưng cũng thể từ bỏ. Không còn nữa những bao gói lãng phí, các khẩu phẩn ăn cỡ lớn, các tờ báo gây độc hại môi trường.
Cuối cùng, trong nền kinh tế có khả năng tái tạo, chúng ta cần phải chú trọng cải thiện không ngừng nghỉ thay vì chỉ quan tâm tới mở rộng quy mô trong khi chất lượng của các giao dịch và của thị trường lại rất thấp. Hãy coi đây như một nền kinh tế hợp tác. Đó là mô hình chúng ta luôn muốn hướng đến nhưng chưa bao giờ biến nó thành hiện thực.
Nếu những gì các chuyên gia đã nói là đúng và chúng ta thực sự muốn tìm ra lối sống bền vững và các vị thống đống ngân hàng hoàn toàn đúng khi nói rằng chúng ta phải tự lực cánh sinh và điều các nhà công nghệ nói về hệ thống hợp tác sẽ trở thành tương lai của chúng ta là đúng thì cuộc cách mạng học thuyết kinh tế tiếp theo chắc chắn sẽ hướng tới một hệ thống gắn với thiên nhiên và cuộc sống đời thường hơn.
Chúng ta đang dần hướng đến một thế giới mà các giao dịch hoàn toàn miễn phí và diễn ra ngay tức thì mỗi khi nhu cầu nảy sinh. Rồi đây, các giao dịch không đủ để duy trì một nền kinh tế. Chúng ta nhận ra rằng mọi hệ thống đều vận hành giống hệ thống sinh học và ngay cả nền kinh tế của chúng ta cũng vậy. Kinh doanh nhưng lại chỉ biết đến tăng trưởng bằng mọi giá là mù quáng.
Đã đến lúc áp dụng lối tư duy mới này bằng nhiều phương thức khác nhau vào tình hình hiện tại.
Khi cuộc khủng hoảng kinh tế làm cho niềm tin của mọi người cũng bị khủng hoảng trầm trọng theo, bạn phải làm gì để giữ vững niềm tin? Mc Kee sẽ tư vấn cho bạn bằng một phương trình mang tên hi vọng...
Trong báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội khóa 12 kỳ họp thứ 6 có nêu vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế. Vấn đề không mới. Đó là việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trong lý luận quản lý Nhà nước có đề cập đến các nội hàm cấu trúc vĩ mô của nền kinh tế quốc dân, cơ hội cho Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế và con đường thực hiện sự can thiệp đó. Bài viết này tập trung khai thác các nội hàm nói trên từ thực tế đất nước nhiều năm qua, hy vọng gọi ý cho việc phấn đấu đạt mục tiêu chung.
Trong báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội khóa 12 kỳ họp thứ 6 có nêu vấn đề tái cấu trúc nền kinh tế. Vấn đề không mới. Đó là việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng. Trong lý luận quản lý Nhà nước có đề cập đến các nội hàm cấu trúc vĩ mô của nền kinh tế quốc dân, cơ hội cho Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế và con đường thực hiện sự can thiệp đó. Bài viết này tập trung khai thác các nội hàm nói trên từ thực tế đất nước nhiều năm qua, hy vọng gọi ý cho việc phấn đấu đạt mục tiêu chung.
Kinh tế thương hiệu là một thực tế, đã hình thành trong những phân khúc của hậu tư bản. Trong khi khái niệm kinh tế tri thức còn khá mơ hồ thì thương hiệu đã trở thành một thế lực kinh tế mạnh mẽ.
Nền kinh tế toàn cầu không thể thoát khỏi quy luật tăng trưởng rồi suy tàn. Khi khủng hoảng xảy ra, người ta coi đó như hậu quả tất yếu sau một kỳ tăng trưởng nóng và là dấu hiệu tốt cho thấy một sức sống mới sắp bắt đầu.
Co cụm là hiện tượng nhiều công ty cùng nhóm ngành quay tụ trong một phạm vi rất gần nhau, và như một phương tiện để các công ty nhỏ được hưởng lợi ích của sự giảm bớt chi phí sản xuất thường chỉ dành cho các công ty lớn. Bài viết dưới đây đề cập tới hiện tượng co cụm của ngành ngân hàng.
Vào ngày 5/11/2008, trong lúc viếng thăm Trường Kinh tế Luân Đôn (London School of Economics) nổi tiếng, nữ hoàng Anh Elizabeth II hỏi các nhà kinh tế hiện diện: “Tại sao không ai tiên đoán được cuộc khủng hoảng tín dụng hiện nay?”. (Nghe đâu hoàng gia đã mất ít nhất 50 triệu Bảng Anh vì cuộc khủng hoảng này).
Cuộc khủng hoảng tài chính hiện giờ khiến nhiều người đã từng sống trong những ngày tồi tệ của cuộc Đại khủng hoảng những năm 30 của thế kỷ trước không khỏi bị ám ảnh bởi nỗi lo về một sự kiện tương tự sẽ tái diễn trên đất Mỹ. Trong câu chuyện dưới đây, tác giả đã ghi lại những suy nghĩ của người dân ở Lexington, Hoa Kỳ.
“Giáo sư lâu năm của Đại học Harvard, nhà khoa học chính trị có tầm ảnh hưởng và là thầy của nhiều thế hệ các nhà khoa học trên nhiều lĩnh vực khác nhau... ” Đó là những lời đánh giá trân trọng mà trường Đại học Harvard dành đến Samuel Huntington, người từng giảng dạy 58 năm Harvard, là một trong những nhà chính trị học nổi tiếng nhất thế giới đương đại.
GDP (Gross Domestic Product - Tổng sản phẩm trong nước) đã dần dần trở thành quen thuộc không chỉ với các nhà kinh tế, các nhà quản lý và điều hành từ Trung ương tới địa phương, các doanh nghiệp mà cả với người dân nước ta được bắt đầu từ Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 183/TTg ngày 25/12/1992 về việc Việt Nam chính thức áp dụng Hệ thống Tài khoản quốc gia (SNA) trên phạm vi cả nước.
Trong một nền kinh tế thị trường, một số người không có các khả năng hoặc các nguồn lực khác để kiếm sống. Trái lại, một số khác lại được hưởng nhiều lợi lộc vì thừa hưởng tài sản hay có tài năng, hoặc do họ biết kết hợp với gia đình và bạn bè về mặt kinh doanh, chính trị hay xã hội.
Nếu các thị trường và hệ thống thị trường là hiệu quả, tại sao lại để cho chính phủ nhúng tay vào hoạt động của họ? Tại sao họ không áp dụng một chính sách gọi là laissez-faire (chính sách để mặc tư nhân tự kinh doanh- thị trường tự do) và cho phép các thị trường tư nhân hoạt động không chịu bất cứ sự can thiệp nào của nhà nước?
Để giành giật thị trường, một số công ty sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn: tình báo, gây xào xáo nội bộ đối phương, tung tin thất thiệt..., Đôi khi còn có sự thông đồng của các cơ quan tình báo của quốc gia sở tại.
Các tỷ phú trên thế giới đều có bí quyết riêng để đạt được thành công trong cuộc sống. Họ không ngại chia sẻ với mọi người, bởi không phải ai cũng có thể làm được theo đúng những “công thức” đó.
Trong khi nhiều công ty Trung Quốc tìm cách bắt chước thành công của Lenovo trong xây dựng thương hiệu toàn cầu, Jianlibao và Li Ning là minh chứng rõ ràng cho việc, tham vọng sẽ không bao giờ đạt được nếu không chú trọng đến tiếp thị. Thành - bại trong làm thương hiệu của DN Trung Quốc có thể là bài học cho Việt Nam.
Nhiều năm gần đây, nghề nấu cỗ phát triển khá rầm rộ. Nhiều người thấy hấp dẫn bởi thu nhập nghề này đã đứng ra tổ chức, thuê người làm dịch vụ, nhận đơn hàng. Tuy nhiên, với tính chất và đặc thù riêng thì nghề này xem ra cũng rất "kén " người.
Tận dụng quả dại trên rừng làm rượu vang cao cấp, trồng rau sạch và cho thuê nông trại thư giãn, bán phần mềm tiết kiệm pin... nhiều bạn trẻ đã biến ý tưởng ảo thành dự án trị giá hàng tỷ đồng.
DN có vốn cũng không dám mạo hiểm đầu tư vào lĩnh vực phân phối nếu như không tìm được đối tác nước ngoài có kinh nghiệm trong lĩnh vực này.
Từng giảng dạy tại Đại học Bách khoa Budapest (Hungary), công tác ở Viện Kỹ thuật quân sự, Tổng cục Điện tử Việt Nam..., Tiến sĩ Nguyễn Quang A rẽ cuộc đời sang một hướng khác: Đi làm "con buôn".
Lâu nay, việc nông dân nuôi nhím, rắn, kỳ đà... để làm giàu là chuyện thường, nhưng nuôi chồn thì rất ít thấy, nhất là với ý muốn nuôi chồn để... bán cà phê thượng hạng.
Vương Tuyết Hồng luôn là đề tài để bàn luận kể từ ngày bà xuất hiện trên thương trường. Bà khởi nghiệp bằng tiền thế chấp căn nhà mẹ tặng, bà đã lập nên 2 con rồng của Đài Loan: Công ty sản xuất chip tích hợp VIA Technologies và nhà sản xuất điện thoại HTC.
Donald Trump, tỷ phú người Mỹ xếp thứ 17 trong danh sách những người giàu nhất thế giới của Forbes năm 2011 đã dành 7 lời khuyên cho những người mới bắt đầu khởi nghiệp kinh doanh.
Sau nhiều ngày tranh cãi với các cổ đông, đặc biệt là quỹ Third Point, về chuyện bằng cấp giả mạo của CEO Scott Thompson, cuối tuần qua, Yahoo đã bổ nhiệm ông Ross Levinsohn lên làm quyền CEO thay ông Thompson.