Tổng cục Thống kê vừa cho biết, tính đến 7 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam ước đạt 96,83 tỷ USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Điện thoại và linh kiện đứng đầu hàng xuất khẩu chủ lực.

Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, xuất khẩu phân bón của Việt Nam trong tháng 11/2018 tiếp tục sụt giảm so với tháng trước đó, giảm 14,9% về lượng và 6,9% về trị giá tương ứng với 53,4 nghìn tấn; 18,96 triệu USD – đây là tháng giảm thứ hai liên tiếp.
Tính chung từ đầu năm đến hết tháng 11/2018, lượng phân bón xuất khẩu đạt 798,5 nghìn tấn, trị giá 265,43 triệu USD, giảm 9,4% về lượng nhưng kim ngạch tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2017.
Cămpuchia là thị trường có lượng phân bón xuất khẩu nhiều nhất, chiếm 42,39% đạt 338,5 nghìn tấn, trị giá 119,52 triệu USD, giảm 6,03% về lượng nhưng tăng 4,27% trị giá so với cùng kỳ. Đứng thứ hai là thị trường Malaysia, tuy nhiên tốc độ xuất khẩu phân bón sang thị trường này suy giảm, chỉ có 101 nghìn tấn, trị giá 21 triệu USD, giảm 24,12% về lượng và giảm 23,46% trị giá.
Kế đến là thị trường Philippines, tuy đứng ba sau Campuchia và Malaysia, nhưng so với cùng kỳ kim ngạch lại có tốc độ tăng mạnh, 95,71% đạt 14,95 triệu USD với lượng xuất 44,4 nghìn tấn, tăng 71,58%. Giá xuất bình quân 336,66 USD/tấn, tăng 14,06%.
Đặc biệt, thời gian này giá xuất bình quân sang thị trường Angola đắt nhất 500 USD/tấn, tăng 3,45% so với cùng kỳ và lượng xuất cũng tăng mạnh, gấp gần 4 lần về lượng (tức tăng 298%) và kim ngạch gấp 4,3 lần (tức tăng 311,75%), đạt lần lượt 1,6 nghìn tấn, trị giá 797,9 nghìn USD.
Ngược lại, xuất khẩu phân bón sang thị trường Hàn Quốc và Lào sụt giảm mạnh cả lượng và trị giá, giảm lần lượt 47,83% và 36,53% về lượng tương ứng 29,36 nghìn tấn, 34,69 nghìn tấn; giảm 11,01% và 7,77% trị giá chỉ với 8,3 triệu USD; 13,33 triệu USD.
Thị trường xuất khẩu phân bón 11 tháng năm 2018
| Thị trường
| 11T2018 | +/- so với cùng kỳ 2017 (%)* | ||
| Lượng (Tấn) | Trị giá (USD) | Lượng | Trị giá | |
| Campuchia | 338.500 | 119.527.733 | -6,03 | 4,27 |
| Malaysia | 101.095 | 21.085.094 | -24,12 | -23,46 |
| Philippines | 44.418 | 14.953.728 | 71,58 | 95,71 |
| Lào | 34.690 | 13.337.416 | -36,53 | -7,77 |
| Hàn Quốc | 29.362 | 8.380.779 | -47,83 | -11,01 |
| Thái Lan | 12.889 | 4.008.022 | -30,25 | -22,81 |
| Nhật Bản | 8.590 | 2.932.614 | 15,47 | 25,03 |
| Đài Loan | 3.105 | 881.117 | 79,48 | 74,44 |
| Angola | 1.596 | 797.995 | 298 | 311,75 |
(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)
Theo Vinanet.vn
1Tổng cục Thống kê vừa cho biết, tính đến 7 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam ước đạt 96,83 tỷ USD, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm ngoái. Điện thoại và linh kiện đứng đầu hàng xuất khẩu chủ lực.
2Ngành thép hiện đã đáp ứng được nhu cầu trong nước về các sản phẩm thép xây dựng, phôi thép, tôn mạ màu kim loại, cuộn cán nguội… Tuy nhiên, Việt Nam vẫn chi một lượng ngoại tệ lớn để NK những mặt hàng này. Lượng thép NK tăng đột biến gây không ít khó khăn cho các DN sản xuất trong nước.
3Giá hạt điều xuất khẩu
4Giá rau quả nhập khẩu
5Giá rau quả xuất khẩu tuần
6Giá thủy sản xuất khẩu tuần
7Giá hàng dệt may xuất khẩu
Việt Nam nhập khẩu hàng điện gia dụng và linh kiện từ 7 quốc gia trên thế giới, trong đó chủ yếu nhập từ Thái Lan, chiếm 58,5% thị phần.
9Tháng 6/2016, cả nước đã nhập khẩu 75,1 nghìn tấn xơ, sợi dệt các loại, trị giá 145 triệu USD, giảm 0,4% về lượng, nhưng tăng 5,6% về trị giá so với tháng 5/2016 – đây là tháng thứ hai kim ngạch tăng trưởng liên tiếp.
10Sản phẩm dây điện và cáp điện được đánh giá là một trong những nhóm ngành hàng đóng góp không nhỏ vào giá trị sản xuất công nghiệp của Việt Nam.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự