Để vào được những thị trường khó tính, có những loại trái cây tươi của Việt Nam phải mất 4-5 năm, thậm chí 10 năm, vượt qua những rào cản về kiểm dịch thực vật khắt khe.

Xu hướng chi tiêu chăm sóc sức khỏe, cũng như chuyển dịch từ thuốc ngoại sang thuốc nội đang tăng. Điều này được thể hiện trong kim ngạch nhập khẩu dược phẩm 11 tháng đầu năm 2018 gần như không đổi so với năm 2017 tương ứng với 2,54 tỷ USD, riêng tháng 11/2018 đã nhập 249,16 triệu USD, tăng 6,3% so với tháng 10/2018.
Việt Nam nhập khẩu dược phẩm chủ yếu từ Pháp, Đức và Ấn Độ - ba thị trường này đều đạt kim ngạch trên 200 triệu USD, chiếm 31,8% tỷ trọng , tuy nhiên so với cùng kỳ tốc độ nhập từ những thị trường này đều sụt giảm. Cụ thể, Pháp đạt kim ngạch cao nhất 286,46 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ giảm 4,85%, riêng tháng 11/2018 giảm 2,83% so với tháng 10/2018 chỉ với 27,87 triệu USD và giảm 17,47% so với tháng 11/2017. Đứng thứ hai về kim ngạch là thị trường Đức giảm 4,51% với 278,98 triệu USD, riêng tháng 11/2018 là 23,52 triệu USD, giảm 19,93% so với tháng 10/2018 nhưng tăng 14,63% so với tháng 11/2017. Cuối cùng là Ấn Độ giảm 9,33% với 232 triệu USD, riêng tháng 11/2018 là 21,2 triệu USD, giảm 0,29% so với tháng 10/2018 nhưng tăng 19,82% so với tháng 11/2017.
Ngoài ba thị trường chính kể trên, Việt Nam còn nhập từ các thị trường khác như Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Singapore…. Đáng chú ý, thời gian này Việt Nam tăng mạnh nhập khẩu dược phẩm từ thị trường Nhật Bản, tuy chỉ đạt 58,18 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ tăng vượt trội 38,72%, riêng tháng 11/2018 đã tăng 35,03% so với tháng 10/2018 đạt 4,35 triệu USD và tăng 26,24% so với tháng 11/2017. Ở chiều ngược lại, giảm mạnh nhập từ thị trường Malasyia và Achentina, giảm lần lượt 70,29% và 51,34% tương ứng với 3,4 triệu USD và 6,36 triệu USD.
Thị trường cung cấp dược phẩm 11 tháng năm 2018
| Thị trường | T11/2018 (USD) | +/- so với T10/2018 (%)* | 11T/2018 (USD) | +/- so với cùng kỳ 2017 (%)* |
| Pháp | 27.877.912 | -2,83 | 286.463.524 | -4,85 |
| Đức | 23.529.857 | -19,93 | 278.983.166 | -4,51 |
| Ấn Độ | 21.210.770 | -0,29 | 232.058.878 | -9,33 |
| Italy | 9.992.234 | -32,49 | 174.083.965 | 8,57 |
| Thụy Sỹ | 16.188.508 | -12,73 | 169.857.672 | 28,06 |
| Hàn Quốc | 12.775.909 | 5,77 | 143.512.159 | -17,81 |
| Anh | 10.733.818 | 21,16 | 120.987.305 | 9,49 |
| Hoa Kỳ | 15.592.529 | 44,58 | 120.315.058 | -0,68 |
| Bỉ | 16.158.022 | 329,12 | 78.312.294 | 12,46 |
| Tây Ban Nha | 5.593.838 | -0,17 | 73.113.609 | 14,73 |
| Thái Lan | 5.998.251 | -12,92 | 65.093.342 | -20,66 |
| Áo | 8.003.650 | 154,12 | 59.125.872 | 10,62 |
| Nhật Bản | 4.355.845 | 35,03 | 58.183.507 | 38,72 |
| Ireland | 3.969.637 | 3,12 | 51.764.422 | -35,62 |
| Australia | 3.140.991 | -54,06 | 50.511.095 | 8,7 |
| Ba Lan | 6.942.244 | 115,11 | 45.483.391 | 1,41 |
| Thụy Điển | 7.304.746 | 131,68 | 42.613.789 | 15,49 |
| Hungary | 4.282.231 | -23,76 | 37.323.867 | 23,6 |
| Đan Mạch | 3.982.145 | 33,59 | 36.881.907 | 22,23 |
| Trung Quốc | 3.617.099 | 43,29 | 34.678.221 | -27,37 |
| Hà Lan | 3.137.805 | -57,23 | 33.590.254 | 1,9 |
| Indonesia | 2.814.200 | -36,63 | 27.376.913 | 30,55 |
| Pakistan | 1.844.472 | 89,75 | 13.598.710 | 7,78 |
| Đài Loan | 776.046 | -12,33 | 11.102.225 | -38,17 |
| Thổ Nhĩ Kỳ | 1.842.445 | 53,37 | 10.709.542 | -29,26 |
| Canada | 503.035 | -42,11 | 10.509.883 | 51,23 |
| Nga | 412.814 | -54,77 | 9.968.162 | 16,81 |
| Singapore | 915.245 | -53,05 | 9.644.652 | 145,7 |
| Philippines | 273.358 | 29,07 | 8.800.661 | -26,33 |
| Achentina | 965.114 | -2,28 | 6.369.803 | -51,34 |
| Malaysia | 468.276 | 70,2 | 3.450.981 | -70,29 |
(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)
Theo Vinanet.vn
1Để vào được những thị trường khó tính, có những loại trái cây tươi của Việt Nam phải mất 4-5 năm, thậm chí 10 năm, vượt qua những rào cản về kiểm dịch thực vật khắt khe.
2Có nhiều lý do khiến Bộ Công Thương đã xin NK 200.000 tấn đường và khẩn trương thực hiện đấu giá 85.000 tấn đường NK theo hạn ngạch thuế quan.
3UBND tỉnh Quảng Ninh vừa công bố danh sách 49 doanh nghiệp được thực hiện thí điểm hoạt động tạm nhập hàng hóa theo phương thức tạm nhập tái xuất qua cửa khẩu Ka Long thuộc Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái đến hết ngày 31/12/2016.
4Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, 4 tháng đầu năm 2016 cả nước xuất khẩu được gần 68.556 tấn hạt tiêu, đạt kim ngạch gần 556 triệu USD, tăng 25% về lượng và tăng 10,2% về kim ngạch so với cùng kỳ 2015. Giá tiêu đen xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm đạt 7.680 USD/tấn, giảm 1.100 USD/tấn so với cùng kỳ năm trước; tiêu trắng 11.500 USD/tấn, giảm 1.084 USD/tấn.
5Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu thủy sản của cả nước trong tháng 4/2016 đạt trên 559,68 triệu USD (tăng 5,5% so với tháng trước đó), đưa tổng giá XK thủy sản 4 tháng đầu năm đạt hơn 1,96 tỷ USD (tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2015). Đây là tín hiệu lạc quan để có thể hy vọng xuất khẩu cả năm 2016 tăng trưởng tốt
6Không thương hiệu, thiếu thuần loại, không kiểm soát được dư lượng hoá chất hay truy xuất được nguồn gốc… là những điểm yếu khiến xuất khẩu gạo Việt Nam vào các thị trường TPP khó gia tăng.
Tính đến hết tháng 4/2016, giá trị XK cá tra sang thị trường Mỹ đạt 115,1 triệu USD, tăng 7,2% so với cùng năm trước, chiếm 22,7% tổng giá trị XK.
8Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch thực vật đối với việc xuất khẩu gạo và cám gạo từ Việt Nam sang Trung Quốc sẽ tạo hành lang pháp lý cho gạo và cám gạo của Việt Nam sang thị trường này thuận hơn.
9Số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam cho thấy, tháng 4/2016, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ đạt 38 triệu USD, giảm 0,9% so với tháng 3- đây là lần suy giảm thứ hai kể từ đầu năm. Tính chung từ đầu năm cho đến hết tháng 4 kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gốm sứ đạt 147,7 triệu USD, giảm 6,33% so với cùng kỳ năm trước.
10Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, 4 tháng đầu năm 2016 cả nước nhập khẩu 4,21 triệu tấn xăng dầu, trị giá 1,45 tỷ USD (tăng 17,37% về lượng, nhưng giảm 27,3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước).
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự