Việt Nam là đối tác thương mại song phương lớn nhất của Canada kể từ năm 2015, trong đó Việt Nam ghi nhận xuất siêu.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, sản phẩm từ sắt thép nhập khẩu về Việt Nam trong 11 tháng đầu năm 2018 tăng tương đối mạnh 20,5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, đạt 3,34 tỷ USD, chiếm 1,5% tỷ trọng hàng nhập khẩu các loại của cả nước.
Riêng tháng 11/2018 đạt 158,41 triệu USD, tăng 5,3% về kim ngạch so với tháng liền kề trước đó và cũng tăng 19,4% so với cùng tháng năm ngoái. Sản phẩm từ sắt thép nhập khẩu nhiều nhất từ thị trường Trung Quốc chiếm 42,6% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 1,42 tỷ USD, tăng 36,9% so với cùng kỳ năm 2017. Riêng tháng 11/2018 đạt 158,41 triệu USD, tăng 6,6% so với tháng trước và tăng 41% so với tháng 11/2017.
Hàn Quốc là thị trường lớn thứ 2 cung cấp sản phẩm sắt thép cho Việt Nam trong tháng 11tăng 11,7% về kim ngạch, đạt 69,74 triệu USD. Tính chung cả 11 tháng nhập khẩu sản phẩm sắt thép từ thị trường này đạt 620,5 triệu USD, chiếm 18,6% tỷ trọng, tăng 1,3% so với cùng kỳ.
Nhập khẩu sản phẩm sắt thép từ Nhật Bản đạt 530,37 triệu USD, chiếm 15,9%, tăng 16,1%; Đông Nam Á 278,3 triệu USD, chiếm 8,3%, tăng 9,5%; EU 172,8 triệu USD, chiếm 5,2%, tăng 19,3%.
Xét riêng trong tháng 11/2018 nhập khẩu sản phẩm sắt thép từ thị trường Nga đột ngột tăng mạnh gấp 14,1 lần so với tháng trước đó, đạt 5,7 triệu USD và cũng tăng mạnh 376,7% so với cùng tháng năm trước. Nhập khẩu từ thị trường Anh, Canada, Hà Lan, Na Uy và Tây Ban Nha cũng tăng mạnh từ 70 - 80% về kim ngạch.
Tính chung trong cả 11 tháng đầu năm 2018 kim ngạch tăng ở hầu hết các thị trường nhập khẩu. Trong đó sản phẩm sắt thép nhập khẩu từ thị trường Áo tăng mạnh nhất 205,9% so với cùng kỳ năm trước, đạt 13,71 triệu USD, tiếp đến nhập khẩu từ Đan Mạch tăng 141,7%, đạt 9,91 triệu USD; Ukraine tăng 138,3%, đạt 4,48 triệu USD; Thụy Điển tăng 93,2%, đạt 5,26 triệu USD.
Nhập khẩu sản phẩm sắt thép 11 tháng đầu năm 2018
ĐVT: USD
| Thị trường | T11/2018 | +/- so với T10/2018 (%)* | +/- so với T11/2017 (%)* | 11T/2018 | +/- so với cùng kỳ (%)* |
| Tổng kim ngạch NK | 358.384.284 | 5,25 | 19,36 | 3.335.374.441 | 20,51 |
| Trung Quốc | 158.414.939 | 6,59 | 41,01 | 1.422.399.817 | 36,86 |
| Hàn Quốc | 69.736.648 | 11,69 | -5,68 | 620.498.802 | 1,31 |
| Nhật Bản | 50.133.119 | -3,7 | 2,03 | 530.365.008 | 16,12 |
| ĐÔNG NAM Á | 25.476.683 | -14,49 | -1 | 278.299.454 | 9,54 |
| Thái Lan | 17.392.747 | -5,08 | 11,41 | 177.381.539 | 20,06 |
| EU | 14.423.968 | -16,32 | 7,47 | 172.800.809 | 19,25 |
| Đài Loan | 12.707.549 | -0,2 | -3,56 | 136.016.026 | 10,37 |
| Đức | 5.280.099 | -22,54 | 4,57 | 59.461.172 | 7,95 |
| Hoa Kỳ | 5.750.900 | -20,51 | 14,16 | 52.829.183 | 11,27 |
| Malaysia | 4.208.655 | -43,12 | -27 | 47.974.165 | 9,57 |
| Indonesia | 2.044.969 | 7,38 | -22,79 | 29.336.220 | -0,82 |
| Italy | 2.325.330 | 43,27 | -3,28 | 26.520.072 | 6,34 |
| Ấn Độ | 2.425.871 | -9,92 | 56,74 | 26.335.209 | 27,93 |
| Singapore | 1.562.787 | -10,09 | 26,51 | 20.039.311 | 4,35 |
| Hà Lan | 2.163.951 | 78,78 | 85,42 | 18.655.987 | 8,3 |
| Áo | 183.677 | -89,26 | -77,61 | 13.711.168 | 205,91 |
| Pháp | 696.048 | -47,06 | -49,61 | 13.696.158 | -2,4 |
| Anh | 1.236.287 | 84,09 | 168,05 | 11.596.860 | 18,52 |
| Thụy Sỹ | 682.066 | -10,18 | -9,69 | 9.919.316 | -35,14 |
| Đan Mạch | 1.389.416 | -29,27 | 265,22 | 9.910.364 | 141,67 |
| Nga | 5.699.412 | 1,309,66 | 376,65 | 8.914.538 | 78,69 |
| Na Uy | 1.121.904 | 77,09 | 168,05 | 8.321.152 | 43,63 |
| Hồng Kông (Trung Quốc) | 490.980 | 34,51 | -9,26 | 6.463.087 | 9,28 |
| Tây Ban Nha | 426.253 | 71,49 | -53,56 | 5.869.978 | -26,77 |
| Thụy Điển | 425.528 | -50,85 | 8,63 | 5.260.876 | 93,16 |
| Ukraine | 217.430 | -26,12 | 149,06 | 4.477.157 | 138,34 |
| Bỉ | 113.228 | -43,51 | -1,87 | 4.385.157 | 78,48 |
| Ba Lan | 184.151 | -69,81 | -44,71 | 3.733.017 | 80,82 |
| Philippines | 267.525 | -37,56 | -43,52 | 3.568.219 | -74,06 |
| Australia | 221.901 | -70,85 | -3,57 | 3.404.082 | 28,5 |
| Canada | 184.724 | 81,83 | 42,25 | 2.132.301 | -8,75 |
(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)
theo Vinanet.vn
1Việt Nam là đối tác thương mại song phương lớn nhất của Canada kể từ năm 2015, trong đó Việt Nam ghi nhận xuất siêu.
2Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng đầu năm 2019 xuất khẩu nhóm hàng thủy sản của Việt Nam ra thị trường nước ngoài giảm 3,5% so với tháng 12/2018 nhưng tăng 10,7% so với cùng tháng năm 2018, đạt gần 741,14 tỷ USD.
3Việt Nam và Myanmar đã thiết lập quan hệ ngoại giao hơn 40 năm qua và không ngừng phát triển. Myanmar là quốc gia có nhiều tiềm năng phát triển, với nguồn tài nguyên phong phú và diện tích lớn thứ hai trong ASEAN. Những năm gần đây quan hệ thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và Myanmar ngày càng khả quan.
4Dù xuất khẩu hàng hóa chững lại trong tháng đầu tiên của năm 2019, tuy nhiên, dự báo xuất khẩu trong năm nay tiếp tục có nhiều thuận lợi. Vì thế, mục tiêu kim ngạch xuất khẩu đạt 265 tỷ USD mà Bộ Công Thương đặt ra hoàn toàn có thể đạt được.
5Tuy không phải là nhóm hàng chủ lực nhập khẩu từ thị trường Canada trong năm 2018, nhưng nhập khẩu sắt thép từ thị trường này lại có tốc độ tăng vượt trội.
6Theo tính toán từ số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng đầu tiên của năm 2019, cả nước xuất khẩu 486.712 tấn dầu thô, thu về 225,79 triệu USD, tăng 39% về lượng và tăng 49% về kim ngạch so với tháng cuối năm 2018 và cũng tăng 26% về lượng và tăng 10% về kim ngạch so với tháng 1/2018.
7Nếu như trong tháng cuối năm 2018, xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 7,6% thì nay tháng đầu năm 2019 đã lấy lại đà tăng trưởng 10,1% so với tháng 12/2018 đạt 49,8 triệu USD.
Xuất khẩu thức ăn gia súcXuất khẩu nguyên liệu thức ăn gia súc
8Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 12/2018 cả nước xuất khẩu 153.906 tấn cà phê, đạt 275,77 triệu USD, tăng 11,4% về lượng và tăng 7,1% về kim ngạch so với tháng 11/2018, nhưng giảm 2,8% về lượng và giảm 13,4% về kim ngạch so với tháng 12/2017; nâng tổng lượng cà phê xuất khẩu cả năm 2018 lên 1,88 triệu tấn, thu về gần 3,54 tỷ USD, tăng 30,3% về lượng và tăng 9% về kim ngạch so với năm 2017.
9Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, xuất khẩu sản phẩm từ cao su của Việt Nam sang thị trường Ba Lan trong tháng đầu năm 2019 tăng mạnh 100% so với tháng 12/2018 và tăng tới 227,5% so với tháng 1/2018. Tuy vậy, trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sang Ba Lan năm 2019 mặt hàng này chiếm tỷ trọng rất nhỏ (0,22%), chỉ đạt 287.972 USD.
10Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 1/2019 đạt 370 triệu USD, giảm 0,43% so với tháng trước đó nhưng tăng 10,26% so với cùng tháng năm ngoái.
nhập khẩu thức ăn chăn nuôinhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự