Các Bộ trưởng Thương mại đến từ 16 nước châu Á-Thái Bình Dương đã nhất trí về việc bỏ thuế nhập khẩu đối với 80% loại hàng hóa của những nước này trong vòng 10 năm tới.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, sản phẩm từ sắt thép nhập khẩu về Việt Nam trong 11 tháng đầu năm 2018 tăng tương đối mạnh 20,5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, đạt 3,34 tỷ USD, chiếm 1,5% tỷ trọng hàng nhập khẩu các loại của cả nước.
Riêng tháng 11/2018 đạt 158,41 triệu USD, tăng 5,3% về kim ngạch so với tháng liền kề trước đó và cũng tăng 19,4% so với cùng tháng năm ngoái. Sản phẩm từ sắt thép nhập khẩu nhiều nhất từ thị trường Trung Quốc chiếm 42,6% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 1,42 tỷ USD, tăng 36,9% so với cùng kỳ năm 2017. Riêng tháng 11/2018 đạt 158,41 triệu USD, tăng 6,6% so với tháng trước và tăng 41% so với tháng 11/2017.
Hàn Quốc là thị trường lớn thứ 2 cung cấp sản phẩm sắt thép cho Việt Nam trong tháng 11tăng 11,7% về kim ngạch, đạt 69,74 triệu USD. Tính chung cả 11 tháng nhập khẩu sản phẩm sắt thép từ thị trường này đạt 620,5 triệu USD, chiếm 18,6% tỷ trọng, tăng 1,3% so với cùng kỳ.
Nhập khẩu sản phẩm sắt thép từ Nhật Bản đạt 530,37 triệu USD, chiếm 15,9%, tăng 16,1%; Đông Nam Á 278,3 triệu USD, chiếm 8,3%, tăng 9,5%; EU 172,8 triệu USD, chiếm 5,2%, tăng 19,3%.
Xét riêng trong tháng 11/2018 nhập khẩu sản phẩm sắt thép từ thị trường Nga đột ngột tăng mạnh gấp 14,1 lần so với tháng trước đó, đạt 5,7 triệu USD và cũng tăng mạnh 376,7% so với cùng tháng năm trước. Nhập khẩu từ thị trường Anh, Canada, Hà Lan, Na Uy và Tây Ban Nha cũng tăng mạnh từ 70 - 80% về kim ngạch.
Tính chung trong cả 11 tháng đầu năm 2018 kim ngạch tăng ở hầu hết các thị trường nhập khẩu. Trong đó sản phẩm sắt thép nhập khẩu từ thị trường Áo tăng mạnh nhất 205,9% so với cùng kỳ năm trước, đạt 13,71 triệu USD, tiếp đến nhập khẩu từ Đan Mạch tăng 141,7%, đạt 9,91 triệu USD; Ukraine tăng 138,3%, đạt 4,48 triệu USD; Thụy Điển tăng 93,2%, đạt 5,26 triệu USD.
Nhập khẩu sản phẩm sắt thép 11 tháng đầu năm 2018
ĐVT: USD
| Thị trường | T11/2018 | +/- so với T10/2018 (%)* | +/- so với T11/2017 (%)* | 11T/2018 | +/- so với cùng kỳ (%)* |
| Tổng kim ngạch NK | 358.384.284 | 5,25 | 19,36 | 3.335.374.441 | 20,51 |
| Trung Quốc | 158.414.939 | 6,59 | 41,01 | 1.422.399.817 | 36,86 |
| Hàn Quốc | 69.736.648 | 11,69 | -5,68 | 620.498.802 | 1,31 |
| Nhật Bản | 50.133.119 | -3,7 | 2,03 | 530.365.008 | 16,12 |
| ĐÔNG NAM Á | 25.476.683 | -14,49 | -1 | 278.299.454 | 9,54 |
| Thái Lan | 17.392.747 | -5,08 | 11,41 | 177.381.539 | 20,06 |
| EU | 14.423.968 | -16,32 | 7,47 | 172.800.809 | 19,25 |
| Đài Loan | 12.707.549 | -0,2 | -3,56 | 136.016.026 | 10,37 |
| Đức | 5.280.099 | -22,54 | 4,57 | 59.461.172 | 7,95 |
| Hoa Kỳ | 5.750.900 | -20,51 | 14,16 | 52.829.183 | 11,27 |
| Malaysia | 4.208.655 | -43,12 | -27 | 47.974.165 | 9,57 |
| Indonesia | 2.044.969 | 7,38 | -22,79 | 29.336.220 | -0,82 |
| Italy | 2.325.330 | 43,27 | -3,28 | 26.520.072 | 6,34 |
| Ấn Độ | 2.425.871 | -9,92 | 56,74 | 26.335.209 | 27,93 |
| Singapore | 1.562.787 | -10,09 | 26,51 | 20.039.311 | 4,35 |
| Hà Lan | 2.163.951 | 78,78 | 85,42 | 18.655.987 | 8,3 |
| Áo | 183.677 | -89,26 | -77,61 | 13.711.168 | 205,91 |
| Pháp | 696.048 | -47,06 | -49,61 | 13.696.158 | -2,4 |
| Anh | 1.236.287 | 84,09 | 168,05 | 11.596.860 | 18,52 |
| Thụy Sỹ | 682.066 | -10,18 | -9,69 | 9.919.316 | -35,14 |
| Đan Mạch | 1.389.416 | -29,27 | 265,22 | 9.910.364 | 141,67 |
| Nga | 5.699.412 | 1,309,66 | 376,65 | 8.914.538 | 78,69 |
| Na Uy | 1.121.904 | 77,09 | 168,05 | 8.321.152 | 43,63 |
| Hồng Kông (Trung Quốc) | 490.980 | 34,51 | -9,26 | 6.463.087 | 9,28 |
| Tây Ban Nha | 426.253 | 71,49 | -53,56 | 5.869.978 | -26,77 |
| Thụy Điển | 425.528 | -50,85 | 8,63 | 5.260.876 | 93,16 |
| Ukraine | 217.430 | -26,12 | 149,06 | 4.477.157 | 138,34 |
| Bỉ | 113.228 | -43,51 | -1,87 | 4.385.157 | 78,48 |
| Ba Lan | 184.151 | -69,81 | -44,71 | 3.733.017 | 80,82 |
| Philippines | 267.525 | -37,56 | -43,52 | 3.568.219 | -74,06 |
| Australia | 221.901 | -70,85 | -3,57 | 3.404.082 | 28,5 |
| Canada | 184.724 | 81,83 | 42,25 | 2.132.301 | -8,75 |
(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)
theo Vinanet.vn
1Các Bộ trưởng Thương mại đến từ 16 nước châu Á-Thái Bình Dương đã nhất trí về việc bỏ thuế nhập khẩu đối với 80% loại hàng hóa của những nước này trong vòng 10 năm tới.
Nhu cầu gạo toàn cầu sẽ đạt 500 triệu tấn trong 10 năm tới, trong khi các hiệp định thương mại tự do sẽ giúp Việt Nam mở cửa nhiều thị trường.
3Bộ Công Thương đưa ra mục tiêu xuất khẩu đạt khoảng 181,5 tỷ USD, tăng khoảng 10% so với năm 2015. Tỷ lệ nhập siêu duy trì ở mức 5%, tương đương 9 tỷ USD, xấp xỉ kế hoạch của năm 2015.
4Xuất khẩu nguyên liệu cao su của doanh nghiệp trong nước vốn đã gặp nhiều khó do giá bán bị giảm nhiều từ đầu năm đến nay giờ lại bị ảnh hưởng nặng tại thị trường nhập khẩu lớn nhất là Trung Quốc do việc phá giá đồng nhân dân tệ.
5Trái ngược với tình trạng XK ảm đạm của nhiều mặt hàng nông sản khác, từ đầu năm tới nay XK sắn liên tục tăng trưởng mạnh cả sản lượng và giá trị so với các tháng cùng kỳ năm trước. Dự kiến, tổng giá trị XK mặt hàng này cả năm có thể đạt mức 1,5 tỷ USD.
6Lâu nay, nói về XK cà phê, người ta thường chỉ nhắc tới cà phê nhân. Nhưng bên cạnh sản phẩm chủ lực này, cà phê hòa tan Việt Nam cũng đang âm thầm tiến mạnh ra thị trường thế giới.
7Theo ông Dương Hoàng Minh, Phó vụ trưởng Vụ Châu Âu (Bộ Công thương), doanh nghiệp phải chủ động nắm bắt lộ trình giảm thuế đối với từng mặt hàng, biết mình được ưu đãi tới đâu để tận dụng tối đa cơ hội.
8Hầu hết mặt hàng thủy sản được hưởng quy tắc xuất xứ linh hoạt, song nguyên liệu chế biến phải có nguồn gốc nội địa. Đặc biệt, muốn hưởng ưu đãi, lô hàng xuất khẩu không được quá cảnh qua nước thứ 3 đồng thời không được chia nhỏ lô hàng.
9Không chỉ giảm số lượng và giá trị, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu nông sản gặp khó khi đối tác Trung Quốc ép giá, hoặc các đầu mối trung gian nhập khẩu cũng yêu cầu áp tỷ giá với đồng nhân dân tệ.
10Cảnh báo doanh nghiệp việc nhập máy móc đã qua sử dụng có thể "tự hại mình" vì hàng hóa kém cạnh tranh song Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ - Nguyễn Quân cho biết thông tư mới sắp ra đời sẽ nới điều kiện cho việc nhập khẩu này.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự