7 tháng đầu năm, cả nước xuất khẩu 3,93 triệu tấn gạo, tương đương 1,99 tỷ USD, tăng 13,7% về lượng và tăng 30,5% về kim ngạch so với cùng kỳ.

Trong số các thị trường nhập khẩu sắt thép 11 tháng đầu năm nay, có 67% số thị trường tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.
Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu sắt thép các loại về Việt Nam trong tháng 11/2018 sụt giảm 15,3% về lượng và giảm 13,1% về kim ngạch so với tháng 10/2018 và cũng giảm 19,3% về lượng và giảm 6,3% về kim ngạch so với tháng 11/2017, đạt 958.999 tấn, tương đương 740,95 triệu USD. Giá nhập khẩu đạt 772,6 USD/tấn, tăng 2,6%.
Tính chung cả 11 tháng đầu năm 2018 lượng sắt thép nhập khẩu đạt 12,4 triệu tấn, tương đương 9,08 tỷ USD, giảm 10,7% về lượng nhưng tăng 9,9% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái. Giá sắt thép nhập khẩu trung bình 11 tháng đạt 732,4 USD/tấn, tăng 23%.
Trong số các thị trường nhập khẩu sắt thép 11 tháng đầu năm nay, có 67% số thị trường tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, còn lại 33% số thị trường bị sụt giảm kim ngạch. Trong đó, nổi bật nhất là thị trường Ukraine với mức tăng rất mạnh 771,7% về lượng và tăng 679% về kim ngạch, mặc dù chỉ đạt 5.753 tấn, tương đương 3,42 triệu USD; Bên cạnh đó, nhập khẩu cũng tăng mạnh từ các thị trường sau: Áo tăng 223,4% về lượng và tăng 489,4% về trị giá, đạt 1.701 tấn, tương đương 11,63 triệu USD; Indonesia tăng 115,2% về lượng và 411% về trị giá, đạt 128.845 tấn, tương đương 156,17 triệu USD; Canada tăng 251,2% về lượng và 228,9% về trị giá, đạt 1.482 tấn, tương đương 1,05 triệu USD.
Ngược lại, nhập khẩu sắt thép từ thị trường Ba Lan giảm mạnh nhất 84% cả về lượng và kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 73 tấn, tương đương 0,13 triệu USD. Nam Phi giảm 53,9% về lượng và giảm 50,8% về kim ngạch, đạt 2.941 tấn, tương đương 5,01 triệu USD. Ấn Độ giảm 59,9% về lượng và giảm 50,7% về kim ngạch, đạt 548.165 tấn, tương đương 355,91 triệu USD.
Sắt thép nhập khẩu về Việt Nam có xuất xứ từ rất nhiều nước, trong đó sắt thép Trung Quốc chiếm 46% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của cả nước, đạt 5,76 triệu tấn, trị giá 4,15 tỷ USD, giảm 12% về lượng nhưng tăng 9,6% về kim ngạch so với cùng kỳ. Giá nhập khẩu tăng 24,5%, đạt trung bình 721 USD/tấn. Riêng tháng 11/2018 nhập khẩu giảm 14% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 10/2018, đạt 445.933 tấn, tương đương 325,4 triệu USD.
Sắt thép nhập khẩu từ Nhật Bản đạt 2,07 triệu tấn, tương đương 1,47 tỷ USD chiếm trên 16% trong tổng lượng và tổng kim ngạch, giảm 1,2% về lượng nhưng tăng 15,8% về trị giá. Giá nhập khẩu đạt 710 USD/tấn, tăng 17,2%. Nhập khẩu từ thị trường Hàn Quốc đạt 1,57 triệu tấn, tương đương 1,3 tỷ USD, chiếm 12,6% trong tổng lượng và chiếm 14,3% trong tổng kim ngạch, giảm 0,9% về lượng nhưng tăng 15,9% về trị giá. Giá nhập khẩu đạt 829,2 USD/tấn, tăng 16,9%. Nhập khẩu từ Đài Loan chiếm 10% trong tổng lượng và tổng kim ngạch, đạt 1,32 triệu tấn, trị giá 882,53 triệu USD, giảm 10,4% về lượng nhưng tăng 7% về kim ngạch.
Nhập khẩu sắt thép 11 tháng đầu năm 2018
| Thị trường | 11T/2018 | +/- so với cùng kỳ* | ||
| Lượng (tấn) | Trị giá (USD) | Lượng | Trị giá | |
| Tổng cộng | 12.403.485 | 9.084.523.244 | -10,69 | 9,92 |
| Trung Quốc | 5.758.521 | 4.152.069.275 | -11,97 | 9,55 |
| Nhật Bản | 2.065.303 | 1.467.201.818 | -1,21 | 15,81 |
| Hàn Quốc | 1.565.772 | 1.298.308.576 | -0,85 | 15,85 |
| Đài Loan (TQ) | 1.316.282 | 882.526.112 | -10,42 | 6,98 |
| Ấn Độ | 548.165 | 355.905.253 | -59,94 | -50,66 |
| Nga | 499.643 | 288.151.942 | 143,72 | 186,33 |
| Indonesia | 128.845 | 156.171.087 | 115,23 | 411,34 |
| Brazil | 132.724 | 76.500.556 | -53,3 | -44,98 |
| Thái Lan | 60.149 | 72.609.754 | -28,48 | -1,99 |
| Malaysia | 49.887 | 62.558.238 | 54,49 | 46,04 |
| Đức | 12.460 | 34.039.861 | -6,36 | 50,48 |
| Pháp | 995 | 24.051.261 | -37,34 | 350,43 |
| Mỹ | 22.584 | 23.461.586 | 199,17 | 126,89 |
| Australia | 34.949 | 19.079.090 | 17,57 | 32,26 |
| Thụy Điển | 6.090 | 16.286.300 | 122,34 | 109,33 |
| Bỉ | 19.946 | 12.409.212 | 53,88 | 68,56 |
| Áo | 1.701 | 11.627.834 | 223,38 | 489,4 |
| Italia | 4.545 | 6.926.049 | -48,73 | -17,38 |
| Tây Ban Nha | 5.273 | 5.373.667 | 83,86 | 61,68 |
| Nam Phi | 2.941 | 5.010.379 | -53,86 | -50,84 |
| Phần Lan | 1.574 | 4.312.138 | -17,94 | -13,13 |
| New Zealand | 7.899 | 4.256.070 | -48,69 | -31,92 |
| Philippines | 471 | 4.000.191 | -42,28 | 203,85 |
| Hà Lan | 4.633 | 3.810.746 | 90,5 | 85,18 |
| Ukraine | 5.753 | 3.415.056 | 771,67 | 679,09 |
| Saudi Arabia | 6.571 | 3.199.531 | 17,47 | 41,52 |
| Hồng Kông (TQ) | 2.123 | 2.641.653 | 38,76 | 77,45 |
| Anh | 2.912 | 2.610.274 | -4,84 | -1,86 |
| Singapore | 1.759 | 2.258.314 | -21,47 | -28,81 |
| Thổ Nhĩ Kỳ | 1.606 | 1.764.897 | -30,33 | -3,06 |
| Canada | 1.482 | 1.049.208 | 251,18 | 228,92 |
| Mexico | 877 | 686.745 | -1,9 | -20,2 |
| Đan Mạch | 858 | 677.490 | 112,9 | 125,83 |
| Ba Lan | 73 | 126.812 | -84,3 | -83,44 |
(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)
17 tháng đầu năm, cả nước xuất khẩu 3,93 triệu tấn gạo, tương đương 1,99 tỷ USD, tăng 13,7% về lượng và tăng 30,5% về kim ngạch so với cùng kỳ.
2Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 7 tháng đầu năm 2018 cả nước xuất khẩu 17,65 triệu tấn xi măng clinker, thu về 656,3 triệu USD, tăng 63,2% về lượng và tăng 73,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017. Giá xi măng, clinker xuất khẩu đạt trung bình 37,2 USD/tấn, tăng 6,3%.
3Sau khi sụt giảm ở tháng 6/2018, thì nay sang tháng 7 xuất khẩu phân bón đã lấy lại đà tăng trưởng, tăng 18,8% về lượng và 29,7% kim ngạch, đạt 77,7 nghìn tấn, 27,5 triệu USD.
47 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu kim loại và sản phẩm đóng góp vào kim ngạch của cả nước trên 1,3 tỷ USD.
5Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 7/2018 đạt 232 triệu USD, giảm mạnh 37,58% so với tháng trước đó nhưng tăng 7,11% so với cùng tháng năm ngoái.
6Lo ngại về cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng leo thang, thị trường cao su trong nước cũng cùng chiều với giá thế giới.
7Tuy chỉ dẫn thứ hai về kim ngạch sau mặt hàng xơ sợi dệt, nhưng xuất khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng của Việt Nam sang thị trường Ai Cập trong 7 tháng đầu năm 2018 tăng đột biến.
8Achentina hiện là một trong những đối tác quan trọng nhất của Việt Nam tại khu vực Mỹ Latinh. Năm 2015, kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 2,3 tỷ USD, con số này tăng lên 2,9 tỷ USD năm 2016. Năm 2017, trao đổi thương mại Việt Nam – Achentina đạt khoảng 3,5 tỷ USD.
9Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu dầu thô của Việt Nam 7 tháng đầu năm 2018 sụt giảm rất mạnh 48,1% về lượng và giảm 26,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 2,32 triệu tấn, tương đương 1,26 tỷ USD.
10Tính từ đầu năm đến hết tháng 6/2018, kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và Malasyia tăng 21,15% so với cùng kỳ năm 2017, đạt trên 5,84 tỷ USD.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự