7 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu kim loại và sản phẩm đóng góp vào kim ngạch của cả nước trên 1,3 tỷ USD.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 7 tháng đầu năm 2018 cả nước xuất khẩu 17,65 triệu tấn xi măng clinker, thu về 656,3 triệu USD, tăng 63,2% về lượng và tăng 73,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017. Giá xi măng, clinker xuất khẩu đạt trung bình 37,2 USD/tấn, tăng 6,3%.

Xi măng, clinker của Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Bangladesh với 4,75 triệu tấn, tương đương 152,8 triệu USD, chiếm 26,9% trong tổng lượng và chiếm 23,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu xi măng của cả nước, tăng 4,9% về lượng và tăng 15,8% về kim ngạch so với 7 tháng đầu năm 2017.
Thị trường lớn thứ 2 là Trung Quốc, đạt 4,52 triệu tấn, tương đương 158,35 triệu USD, chiếm 25,6% trong tổng lượng và chiếm 24,1% trong tổng kim ngạch, tăng rất mạnh gấp 80 lần về lượng và tăng gấp 90 lần về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái,
Thứ 3 là thị trường Philippines đạt 3,49 triệu tấn, tương đương 159,73 triệu USD, chiếm 19,8% trong tổng lượng và chiếm 24,3% trong tổng kim ngạch, tăng 23,5% về lượng và tăng 28,1% về kim ngạch.
Nhìn chung, xuất khẩu xi măng, clinker trong 7 tháng đầu năm nay sang đa số các thị trường đều tăng trưởng so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, xuất khẩu tăng trưởng mạnh ở các thị trường như: Malaysia tăng 87,9% về lượng và tăng 102,2% về kim ngạch, đạt 0,52 triệu tấn, tương đương 17,85 triệu USD. Pê Ru tăng 74,7% về lượng và tăng 72% về kim ngạch, đạt 0,57 triệu tấn, tương đương 26,49 triệu USD. Đài Loan tăng 66,7% về lượng và 86,5% về kim ngạch, đạt 0,97 triệu tấn, tương đương 31,88 triệu USD. Kenya tăng 48,2% về lượng và tăng 66,5% về kim ngạch, đạt 0,14 triệu tấn, tương đương 4,53 triệu USD
Ngược lại, xi măng, clinker xuất khẩu sang thị trường Australia lại sụt giảm mạnh 90,2% về lượng và giảm 80,8% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ đạt 23.504 tấn, tương đương 1,57 triệu USD. Xuất khẩu sang Sri Lanka cũng giảm mạnh 68,3% về lượng và giảm 64,3% về kim ngạch, đạt 128.059 tấn, tương đương 4,23 triệu USD. Xuất khẩu sang Mozambique giảm 47,9% về lượng và giảm 40,8% về kim ngạch, đạt 156.120 tấn, tương đương 5,14 triệu USD.
Xuất khẩu xi măng, clinker 7 tháng đầu năm 2018
| Thị trường | 7T/2018 | +/- so với cùng kỳ (%) | ||
| Lượng (tấn) | Trị giá (USD) | Lượng | Trị giá | |
| Tổng cộng | 17.653.242 | 656.301.980 | 63,2 | 73,39 |
| Bangladesh | 4.745.178 | 152.795.694 | 4,89 | 15,78 |
| Trung Quốc | 4.523.121 | 158.352.683 | 7,897,03 | 8,906,32 |
| Philippines | 3.493.155 | 159.733.784 | 23,45 | 28,1 |
| Đài Loan (TQ) | 966.732 | 31.875.643 | 66,66 | 86,47 |
| Pê Ru | 574.929 | 26.493.257 | 74,72 | 72,12 |
| Malaysia | 521.281 | 17.849.293 | 87,89 | 102,16 |
| Chile | 208.205 | 6.924.860 |
|
|
| Campuchia | 176.108 | 9.076.138 | 25,6 | 23,04 |
| Mozambique | 156.120 | 5.136.461 | -47,86 | -40,78 |
| Kenya | 141.864 | 4.542.966 | 48,16 | 66,48 |
| Sri Lanka | 128.059 | 4.230.609 | -68,3 | -64,33 |
| Lào | 80.532 | 5.299.520 | -25,05 | -25,15 |
| Australia | 23.504 | 1.567.309 | -90,22 | -80,81 |
(*Vinanet tính toán từ số liệu của TCHQ)
Theo Vinanet.vn
17 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu kim loại và sản phẩm đóng góp vào kim ngạch của cả nước trên 1,3 tỷ USD.
2Theo số liệu thống kê từ TCHQ Việt Nam, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu (TĂCN & NL) trong tháng 7/2018 đạt 232 triệu USD, giảm mạnh 37,58% so với tháng trước đó nhưng tăng 7,11% so với cùng tháng năm ngoái.
3Lo ngại về cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng leo thang, thị trường cao su trong nước cũng cùng chiều với giá thế giới.
4Theo số liệu thống kê sơ bộ từ Tổng cục Hải quan, trong 7 tháng đầu năm 2018, cả nước xuất khẩu 3,41 triệu tấn sắt thép, thu về 2,53 tỷ USD, tăng 40,4% về lượng và tăng 56,3% về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.
5Tuy chỉ dẫn thứ hai về kim ngạch sau mặt hàng xơ sợi dệt, nhưng xuất khẩu máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng của Việt Nam sang thị trường Ai Cập trong 7 tháng đầu năm 2018 tăng đột biến.
6Achentina hiện là một trong những đối tác quan trọng nhất của Việt Nam tại khu vực Mỹ Latinh. Năm 2015, kim ngạch thương mại giữa hai nước đạt 2,3 tỷ USD, con số này tăng lên 2,9 tỷ USD năm 2016. Năm 2017, trao đổi thương mại Việt Nam – Achentina đạt khoảng 3,5 tỷ USD.
7Tính từ đầu năm đến hết tháng 6/2018, kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và Malasyia tăng 21,15% so với cùng kỳ năm 2017, đạt trên 5,84 tỷ USD.
8Việt Nam nhập siêu từ Indonesia 206,42 triệu USD, giảm 39,6% so với cùng kỳ năm ngoái.
9Thái Lan hiện đang là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong ASEAN. Kim ngạch trao đổi hàng hóa hai chiều tăng từ 11,5 tỷ USD trong năm 2015 lên 15,3 tỷ USD trong năm 2017, tốc độ tăng trưởng trung bình khoảng 15,5%/năm.
10Kim ngạch nhập khẩu sữa tăng đột biến sau khi CPTPP được ký kết. Cùng với hoạt động nhập khẩu, thị trường nội địa cũng sôi động khi hàng loạt các công ty điều chỉnh tăng giá.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự