Trung Quốc là thị trường Việt Nam nhập khẩu nhiều phân bón nhất, 11 tháng đầu năm 2018 chiếm tới 48% thị phần.

Tiếp đà tăng trưởng từ tháng 10/2018 kim ngạch xuất khẩu giấy và sản phẩm từ giấy tháng 11/2018 đạt 77 triệu USD, tăng 5,7% so với tháng 10/2018 – đây là tháng tăng thứ hai liên tiếp, nâng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này 11 tháng đầu năm 2018 lên 900 triệu USD, tăng 32,7% so với cùng kỳ năm 2017.
Trung Quốc lục địa và Philippines vẫn dẫn đầu tốc độ nhập khẩu giấy và sản phẩm từ giấy của Việt Nam trong 11 tháng đầu năm nay, trong đó Trung Quốc là thị trường đạt kim ngạch cao nhất chiếm 24,67% đạt 222,09 triệu USD, tăng gấp 2,1 lần (tức tăng 110,1%) so với cùng kỳ, mặc dù trong tháng 11/2018 kim ngạch giảm 5,4% so với tháng 10/2018 và giảm 28,11% so với tháng 11/2017 chỉ với 11,96 triệu USD. Đối với thị trường Philippines, tuy chỉ đạt 24,02 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ tăng gấp 2,2 lần (tức tăng 116,62%), riêng tháng 11/2018 thì kim ngạch suy giảm 43,33% chỉ với 1,35 triệu USD, nhưng nếu so sánh với tháng 11/2017 thì tăng 32,07%.
Ngoài Trung Quốc lục địa là thị trường xuất khẩu chủ lực, Việt Nam còn xuất khẩu giấy và sản phẩm giấy sang các thị trường như Mỹ, Đài Loan (TQ) và Nhật Bản đều đạt kim ngạch trên 70 triệu USD, cụ thể Mỹ đạt 99,31 triệu USD, tăng 23,21%; Đài Loan (TQ) đạt 86,92 triệu USD tăng 10,7%) và Nhật BẢn đạt 76,74 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ giảm nhẹ 4,04%.
Nhìn chung, 11 tháng đầu năm nay kim ngạch xuất khẩu giấy và sản phẩm từ giấy sang các thị trường đều có tốc độ tăng trưởng chiếm 87,5% và ngược lại thị trường suy giảm chiếm 12,5% trong đó xuất sang Đức tiếp tục sụt giảm mạnh, nếu như 10 tháng đầu năm xuất sang thị trường này giảm 17,39% thì nay 11 tháng năm 2018 giảm 17,37% so với cùng kỳ tương ứng với 2,03 triệu USD.
Thị trường xuất khẩu giấy và sản phẩm từ giấy 11 tháng năm 2018
Thị trường | T11/2018 (USD) | +/- so với T10/2018 (%)* | 10T/2018 (USD) | +/- so với cùng kỳ năm 2017 (%)* |
Trung Quốc | 11.965.423 | -5,4 | 222.099.039 | 110,1 |
Hoa Kỳ | 7.747.595 | 12,05 | 99.311.062 | 23,21 |
Đài Loan | 9.694.836 | 10,11 | 86.927.320 | 10,7 |
Nhật Bản | 6.573.054 | 1,67 | 76.741.674 | -4,04 |
Campuchia | 5.556.447 | -4,21 | 60.188.609 | 24,88 |
Indonesia | 5.161.331 | 10,23 | 42.124.287 | 45,57 |
Singapore | 3.022.393 | -6,55 | 35.420.620 | 5,68 |
Australia | 3.386.074 | -11,24 | 31.027.794 | 4,72 |
Thái Lan | 4.079.618 | 61,93 | 30.127.938 | 46,38 |
Philippines | 1.354.283 | -43,33 | 24.023.776 | 116,62 |
Hàn Quốc | 2.766.819 | 45,37 | 21.940.485 | 76,94 |
Hồng Kông (TQ) | 739.888 | -4,36 | 7.276.491 | 12,03 |
Lào | 472.001 | 39,43 | 4.676.995 | 3,77 |
UAE | 1.230.772 | 205,74 | 4.672.340 | 33,95 |
Anh | 402.810 | -13,27 | 2.398.779 | 43,15 |
Đức | 95.850 | -57,84 | 2.035.020 | -17,37 |
(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)
1Trung Quốc là thị trường Việt Nam nhập khẩu nhiều phân bón nhất, 11 tháng đầu năm 2018 chiếm tới 48% thị phần.
2Theo Cục Phòng vệ thương mại, hàng xuất khẩu Việt Nam như sắt, thép, đồ gia dụng, điện tử… dính líu đến các vụ điều tra chống bán phá giá, chống trợ cấp của WTO ngày càng tăng.
3Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, năm 2018 đơn vị này phát hiện, bắt giữ, xử lý 16.633 vụ việc vi phạm trong lĩnh vực hải quan, tăng 9,54% so với cùng kỳ.
4Báo cáo tại Hội nghị tổng kết ngành da giày túi xách năm 2018, bà Phan Thị Thanh Xuân, Tổng Thư ký Hiệp hội Da - Giày - Túi xách Việt Nam (Lefaso) cho biết, 11 tháng năm 2018, ngành da giày đã đạt 17,68 tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm 2017. Dự kiến cả năm 2018, xuất khẩu của ngành sẽ đạt mục tiêu đề ra là 19,5 tỷ USD.
511 tháng đầu năm số lượng nhập khẩu giảm 19,5% so với cùng kỳ năm trước và kim ngạch giảm 20,8%.
6Theo số liệu thống kê sơ bộ từ Tổng cục Hải quan, trong 11 tháng đầu năm 2018 cả nước xuất khẩu 5,78 triệu tấn sắt thép, thu về 4,21 tỷ USD, tăng mạnh 36,2% về lượng và tăng 49,5% về kim ngạch so với 11 tháng đầu năm 2017, giá xuất khẩu tăng 9,7%, đạt trung bình 728,9 USD/tấn.
Tuy kim ngạch xuất khẩu hàng mây, tre của Việt Nam sang thị trường Ấn Độ trong tháng 11/2018 giảm so với tháng 10/2018, tính chung 11 tháng 2018 đạt trên 5 triệu USD tăng gấp 16,4 lần so cùng kỳ năm trước.
8Chỉ trong 11 tháng, có tới 13 nhóm hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đạt kim ngạch từ 1 tỷ USD trở lên, tăng 3 nhóm so với cùng kỳ 2017.
9Trong số các thị trường nhập khẩu sắt thép 11 tháng đầu năm nay, có 67% số thị trường tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái.
10Tổng khối lượng xăng dầu nhập khẩu trong 11 tháng đầu năm 2018 đạt trên 10,7 triệu tấn, tương đương 7,24 tỷ USD.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự