Theo số liệu thống kê hàng hóa xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan, tính đến hết tháng 10 năm 2018, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 194,82 tỷ USD, tăng 12,4%.

Số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam cho thấy, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nhựa liên tục tăng mạnh những năm gần đây từ 1,5% năm 2015 lên 14% năm 2017, đạt 2,5 tỷ USD và 9 tháng đầu năm 2018 đạt 2,2 tỷ USD, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm trước.
Tính riêng tháng 9/2018, kim ngạch đạt 240,4 triệu USD, giảm 12,9% so với tháng 8/2018.
9 tháng đầu năm nay có 4 thị trường đạt kim ngạch trên 100 triệu USD là Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc và Hà Lan trong đó Nhật Bản là thị trường chiếm tỷ trọng lớn hơn cả tới 22% đạt 484,8 triệu USD, tăng 17,49% so với cùng kỳ, riêng tháng 9/2018 đạt 54,2 triệu USD, giảm 10,81% so với tháng 8/2018 nhưng tăng 16,87% so với tháng 9/2017. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là túi nhựa, nhựa gia dụng, đồ dùng trong văn phòng, trường học và vải bạt. Hiện nay, nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm nhựa của Nhật Bản hàng năm khoảng trên 10 tỷ USD. Do đó, đây sẽ là thị trường xuất khẩu sản phẩm nhựa tiềm năng nhất của Việt Nam.
Đứng thứ hai là thị trường Mỹ, chiếm 15,7% tỷ trọng đạt 348,7 triệu USD, tăng 24,86% so với cùng kỳ, riêng tháng 9/2018 kim ngạch xuất sang thị trường này chỉ có 35,7 triệu USD, giảm 21,82% so với tháng 8/2018 nhưng tăng 18,87% so với tháng 9/2017. Sản phẩm xuất sang thị trường này là nhựa dùng trong vận chuyển, đóng gói và nhựa gia dụng, túi nhựa và vải bạt.
Kế đến là thị trường Hàn Quốc và Hà Lan đều có tốc độ tăng trưởng trên 18%, đạt tương ứng 119,5 triệu USD và 114,4 triệu USD.
Nhìn chung, 9 tháng đầu năm 2018 xuất khẩu sản phẩm nhựa đều tăng trưởng ở hầu hết các thị trường, đặc biệt hai thị trường Hongkong (TQ) và Ấn Độ tăng mạnh nhập khẩu sản phẩm nhựa từ Việt Nam. Cụ thể, Hongkong (TQ) tuy chỉ nhập 45,8 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ tăng gấp 2,5 lần (tức tăng 150,36%), riêng tháng 9/2018 kim ngạch đạt 5,9 triệu USD, tăng 5% so với tháng 8/2018 và tăng gấp 2 lần (tức tăng 102,78%) so với tháng 9/2017. Thị trường Ấn Độ có tốc độ tăng gấp 2,4 lần (tức tăng 139,55) tuy chỉ đạt 31,3 triệu USD, riêng tháng 9/2018 đạt trên 5 triệu USD, tăng 17,61% so với tháng 8/2018 và tăng gấp 2,2 lần (tức tăng 116,81%) so với tháng 9/2017.
Ở chiều ngược lại, thị trường Thụy Sỹ lại giảm mạnh 29,14% tương ứng với 997,7 nghìn USD, riêng tháng 9/2018 thì kim ngạch cũng sụt giảm 45,23% so với tháng 8/2018 và giảm 56,26% so với tháng 9/2017.
Việc Việt Nam ký kết được các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) đã mang đến nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp xuất khẩu mặt hàng nhựa bao bì. Các đối tác đang chuyển dần đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam để tận dụng chi phí sản xuất rẻ; thuế xuất khẩu sang Hàn Quốc, Nhật Bản và Châu Âu...được hưởng nhiều ưu đãi.
Nhu cầu nhập khẩu sản phẩm nhựa tại thị trường châu Âu (EU), Nhật Bản vẫn ở mức cao, ngày càng ưa thích sản phẩm nhựa Việt Nam, nhất là sản phẩm ống nhựa và túi nhựa. Đây cũng là thị trường truyền thống, doanh nghiệp có khả năng thâm nhập tốt.
Đặc biệt, tại thị trường EU, sản phẩm nhựa Việt Nam không bị áp thuế chống bán phá giá từ 8-30% như các nước. Doanh nghiệp sản xuất bao bì nhựa tăng cường mở rộng thị phần xuất khẩu sang thị trường châu Âu nhờ được hưởng lợi kép về giá thành và ưu đãi mức thuế nhập khẩu.
Dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ được biết đến như là một ngành kinh tế - kỹ thuật về gia công chất dẻo. Bên cạnh đó, ngành nhựa hiện nay mới chỉ chủ động được khoảng 20-25% nguyên liệu và hóa chất phụ gia đầu vào, còn lại phải nhập khẩu khiến hoạt động sản xuất bị phụ thuộc nhiều vào nước ngoài và doanh nghiệp khó tận dụng được ưu đãi thuế do quy định xuất xứ hàng hóa.
Việc phát triển thị trường xuất khẩu cũng gặp nhiều trở ngại. Hiệp định CPTPP không có sự tham gia của Mỹ khiến việc xuất khẩu vào thị trường này phải chịu thuế chống bán phá giá, khó cạnh tranh với sản phẩm nội địa.
Nhật Bản tuy là thị trường xuất khẩu lớn nhất của ngành nhựa Việt Nam nhưng lại có những yêu cầu khắt khe về chất lượng hàng hóa mà nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa có khả năng đáp ứng được do thiếu thông tin và kinh nghiệm. Nhiều nước trên thế giới bao gồm Mỹ, EU cũng đã thông qua lệnh cấm với những sản phẩm nhựa bảo quản thực phẩm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và môi trường.
Thị trường xuất khẩu sản phẩm từ chất dẻo 9 tháng năm 2018
| Thị trường | T9/2018 (USD) | +/- so với T8/2018 (%)* | 9T/2018 (USD) | +/- so với cùng kỳ 2017 (%)* |
| Nhật Bản | 54.299.753 | -10,81 | 484.892.088 | 17,49 |
| Mỹ | 35.769.697 | -21,82 | 348.706.444 | 24,86 |
| Hàn Quốc | 14.840.343 | -4,86 | 119.556.665 | 18,6 |
| Hà Lan | 11.469.421 | -14,52 | 114.476.477 | 18,83 |
| Đức | 8.429.870 | -21,71 | 90.846.946 | 5,08 |
| Campuchia | 10.162.755 | -0,36 | 86.773.207 | 12,2 |
| Trung Quốc | 9.903.835 | -20,05 | 81.807.507 | 85,65 |
| Anh | 8.874.838 | -16,25 | 80.931.810 | 8,73 |
| Indonesia | 8.830.934 | -7,01 | 77.574.516 | 8,02 |
| Thái Lan | 5.084.156 | -4,07 | 49.081.098 | 26,02 |
| Hồng Kông (TQ) | 5.971.575 | 5 | 45.859.118 | 150,36 |
| Australia | 5.498.605 | -15,13 | 44.325.796 | 25,3 |
| Philippines | 4.911.240 | 22,23 | 39.796.977 | -23,47 |
| Pháp | 3.916.678 | -16,52 | 38.371.203 | -5,15 |
| Đài Loan (TQ) | 4.292.656 | -12,5 | 38.054.922 | 7,35 |
| Malaysia | 3.291.930 | -35,09 | 36.600.385 | 29,91 |
| Canada | 3.616.403 | -24,33 | 32.213.389 | 26,96 |
| Ấn Độ | 5.051.087 | 17,61 | 31.323.819 | 139,55 |
| Ba Lan | 3.443.962 | -9,68 | 30.147.862 | 33,23 |
| Myanmar | 2.264.809 | -19,18 | 27.469.605 | 5,2 |
| Bỉ | 2.686.006 | -12,59 | 27.405.007 | 19,15 |
| Italy | 1.075.508 | -30,34 | 16.321.495 | 1,52 |
| Thụy Điển | 1.590.665 | -32,61 | 15.429.529 | -10,75 |
| Tây Ban Nha | 1.745.179 | 4,17 | 15.143.637 | -19,58 |
| Singapore | 2.066.748 | 45,32 | 13.977.504 | -4,26 |
| Nga | 1.302.514 | -41,28 | 13.878.538 | 56,36 |
| Đan Mạch | 1.582.975 | 1,42 | 12.241.982 | 27,36 |
| Mexico | 1.851.917 | 44,39 | 11.544.857 | 15,42 |
| Bangladesh | 304.900 | -19,91 | 9.106.748 | 44,82 |
| New Zealand | 1.023.058 | -31,19 | 8.792.276 | 12,06 |
| Lào | 1.201.741 | 76,84 | 8.634.345 | -28,16 |
| UAE | 481.440 | -15,11 | 6.886.783 | -24,71 |
| Thổ Nhĩ Kỳ | 404.620 | -38,67 | 5.893.118 | 88,6 |
| Phần Lan | 561.865 | 17,9 | 5.445.812 | 6,43 |
| Ukraine | 368.116 | -42,3 | 3.926.780 | 71,81 |
| Na Uy | 164.185 | -55,81 | 2.465.871 | 28,74 |
| Thụy Sỹ | 72.665 | -45,23 | 997.754 | -29,14 |
(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)
Theo Vinanet.vn
1Theo số liệu thống kê hàng hóa xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan, tính đến hết tháng 10 năm 2018, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 194,82 tỷ USD, tăng 12,4%.
2Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 10/2018 tăng 19,2% về lượng và tăng 19,9% về trị giá so với tháng 9/2018, đạt 182,28 nghìn tấn, trị giá 236,29 triệu USD; tăng 57,4% về lượng và tăng 32,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.
3Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong 10 tháng đầu năm 2018 xuất khẩu hạt điều ra thị trường nước ngoài tăng 4,5% về lượng nhưng giảm 2,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, đạt 304.904 tấn, thu về 2,82 tỷ USD. Giá xuất khẩu trung bình giảm 6,8%, đạt 9.239 USD/tấn.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu rau quả ra thị trường nước ngoài 10 tháng đầu năm 2018 tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2017, ước đạt 7,24 tỷ USD; trong đó, riêng tháng 10/2018 đạt 879,16 triệu USD, tăng 13% so với tháng liền kề trước đó và cũng tăng 2,7% so với cùng tháng năm 2017.
5Nếu như tháng 9/2018 xuất khẩu than các loại suy giảm cả lượng và trị giá, thì nay sang tháng 10 đã tăng mạnh trở lại, đặc biệt là về lượng tăng gấp 2,2 lần (tức tăng 122%) và trị giá tăng 84,1% so với tháng 9/2018 đạt 246,87 nghìn tấn, trị giá 30,34 triệu USD.
6Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 10 tháng đầu năm 2018 có 52.769 ô tô nguyên chiếc nhập khẩu vào Việt Nam, giảm 31,8% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt kim ngạch trên 1,84 tỷ USD, giảm 30,3%.
7Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu thủy sản sang các thị trường trong 10 tháng đầu năm 2018 đạt 7,24 tỷ USD, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2017.
8Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, lượng xăng dầu nhập khẩu về Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2018 đạt 9,98 triệu tấn, giảm 5,4% so với 10 tháng đầu năm ngoái, nhưng kim ngạch lại tăng 14,4%, đạt 6,75 tỷ USD.
9Tuy không phải là những nhóm hàng chủ lực xuất khẩu sang thị trường Ấn Độ, nhưng nhóm hàng thủ công mỹ nghệ cụ thể là sản phẩm mây, tre tăng đột biến gấp 16,56 lần so với cùng kỳ năm 2017 tuy kim ngạch chỉ đạt 4,53 triệu USD.
10Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, lượng gạo xuất khẩu 10 tháng đầu năm 2018 ước đạt 5,25 triệu tấn, tương đương 2,64 tỷ USD, tăng 3% về khối lượng và tăng 15,7% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017. Giá xuất khẩu trung bình trong 10 tháng đầu năm 2018 đạt 503,9 USD/tấn, tăng 12,3% so với cùng kỳ.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự