Theo số liệu thống kê hàng hóa xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan, tính đến hết tháng 10 năm 2018, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 194,82 tỷ USD, tăng 12,4%.

Nếu như năm 2016 kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng thủ công mỹ nghệ nói chung và sản phẩm gốm sứ nói riêng giảm 7,5% năm 2015 và 2016 giảm 9,8%, nhưng sang đến năm 2017 đã lấy lại đà tăng trưởng 8,2% đạt 465,8 triệu USD và 9 tháng đầu năm 2018 vẫn giữ được mức tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước, đạt 366 triệu USD.
Tính riêng tháng 9/2018 kim ngạch xuất nhóm hàng này giảm nhẹ 0,1% so với tháng 8/2018 xuống còn 39,8 triệu USD.
Sản phẩm gốm sứ của Việt Nam được xuất khẩu chủ yếu sang các nước Đông Nam Á, chiếm 23,2% tỷ trọng, đạt 85,2 triệu USD, tăng 18,15% so với cùng kỳ, tính riêng tháng 9/2018 kim ngạch sản phẩm gốm sứ xuất sang thị trường này đạt 9,66 triệu USD, tăng 5,23% so với tháng trước và tăng 14,03% so với tháng 9/2017.
Thị trường đạt kim ngạch lớn đứng thứ hai là Nhật Bản, chiếm 16,4% tỷ trọng đạt 60,37 triệu USD, tăng 11,64% so với cùng kỳ, riêng tháng 9/2018 kim ngạch tăng 1,29% so với tháng 8/2018 và tăng 10,79% so với tháng 9/2017 đạt 6,52 triệu USD.
Đối với các nước EU, kim ngạch lại suy giảm so với cùng kỳ giảm 4,38% tương ứng với 59,36 triệu USD, riêng tháng 9/2018 giảm 8,03% so với tháng 8/2018 và giảm 10,23% so với tháng 9/2017 chỉ đạt 6,07 triệu USD.
Kế đến là các thị trường Mỹ, Đài Loan (TQ), Campuchia, Thái Lan, Anh…. Nhìn chung, 9 tháng đầu năm 2018 kim ngạch xuất khẩu đều tăng trưởng ở hầu hết các thị trường, số này chiếm 58% trong đó xuất sang thị trường Achentina tăng vượt trội, tăng gấp 2,9 lần (tức tăng 189,37%) tuy chỉ đạt 1,54 triệu USD.
Đáng chú ý, Indonesia trong số thị trường Đông Nam Á cũng tăng mạnh nhập khẩu sản phẩm gốm sứ từ Việt Nam, với mức tăng gấp 2,3 lần (tức tăng 124,38%) chỉ với kim ngạch 9,2 triệu USD; riêng tháng 9/2018 kim ngạch đạt 1,5 triệu USD giảm 0,12% so với tháng 8, nhưng gấp 2,4 lần (tức tăng 135,09%) so với tháng 9/2017.
Ngoài ra, với khoảng cách vị trí địa lý không xa với Việt Nam, Trung Quốc cũng tăng mạnh nhập khẩu nhóm hàng này với mức tăng gấp 2,1 lần (tức tăng 104,54%) đạt 10,8 triệu USD, riêng tháng 9/2018 thì kim ngạch lại sụt giảm 18,34% so với tháng 8/2018 nhưng tăng 52,27% so với tháng 9/2017.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam lại giảm mạnh xuất khẩu sản phẩm gốm sứ sang thị trường Thụy Sỹ, giảm 77,92% tương ứng với 22,8 nghìn USD.
Thị trường xuất khẩu sản phẩm gốm sứ 9 tháng năm 2018
| Thị trường | T9/2018 (USD) | +/- so với T8/2018 (%)* | 9T/2018 (USD) | +/- so với cùng kỳ 2017 (%)* |
| Nhật Bản | 6.525.051 | 1,29 | 60.370.722 | 11,64 |
| Mỹ | 4.581.882 | -6,23 | 55.237.200 | 18,58 |
| Đài Loan (TQ) | 3.098.557 | -15,71 | 30.235.281 | -13,62 |
| Thái Lan | 3.340.440 | 45 | 22.244.009 | -16,76 |
| Campuchia | 1.906.062 | 10,71 | 21.673.955 | 55,95 |
| Hàn Quốc | 2.053.549 | 11,9 | 15.882.754 | 21,7 |
| Anh | 1.122.237 | -25,46 | 15.369.914 | -19,76 |
| Philippines | 1.262.888 | -14,35 | 12.252.516 | 29,4 |
| Hà Lan | 1.221.278 | -5,11 | 11.508.313 | -3,23 |
| Australia | 1.534.744 | -10,14 | 10.952.646 | 23,12 |
| Trung Quốc | 1.302.503 | -18,34 | 10.839.540 | 104,54 |
| Indonesia | 1.535.396 | 0,12 | 9.250.362 | 124,38 |
| Malaysia | 743.275 | -32,32 | 9.054.672 | 34,84 |
| Italy | 621.844 | -39,79 | 8.309.659 | 1,44 |
| Pháp | 1.634.643 | 21,47 | 7.778.547 | 1,49 |
| Đức | 1.032.555 | 30,63 | 7.643.448 | 24,47 |
| Myanmar | 433.553 | -32,63 | 4.895.212 | 1,29 |
| Lào | 370.390 | 1,81 | 4.678.531 | -2,54 |
| Bỉ | 167.311 | -16,85 | 2.937.935 | -15,91 |
| Canada | 152.373 |
| 2.567.479 | 9,38 |
| Đan Mạch | 90.625 | -22,78 | 2.378.086 | -5,79 |
| Ấn Độ | 355.246 | 92,77 | 2.179.590 | 59,02 |
| Thụy Điển | 49.066 | -81,79 | 1.762.548 | 34,24 |
| Tây Ban Nha | 140.133 | 129,49 | 1.639.176 | -0,85 |
| Achentina | 523.453 | 575,66 | 1.548.111 | 189,37 |
| Singapore | 68.766 | 65,42 | 1.197.768 | -24,84 |
| Hồng Kông (TQ) | 92.483 | -17,39 | 1.127.563 | -1,08 |
| Nga | 97.891 | -30,47 | 1.071.862 | 11,36 |
| Iraq | 28.652 | 3,92 | 267.492 | -52,63 |
| Áo |
|
| 36.216 | -32,72 |
| Thụy Sỹ |
|
| 22.849 | -77,92 |
(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)
Theo Vinanet.vn
1Theo số liệu thống kê hàng hóa xuất nhập khẩu của Tổng cục Hải quan, tính đến hết tháng 10 năm 2018, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu đạt 194,82 tỷ USD, tăng 12,4%.
2Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cao su của Việt Nam trong tháng 10/2018 tăng 19,2% về lượng và tăng 19,9% về trị giá so với tháng 9/2018, đạt 182,28 nghìn tấn, trị giá 236,29 triệu USD; tăng 57,4% về lượng và tăng 32,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2017.
3Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong 10 tháng đầu năm 2018 xuất khẩu hạt điều ra thị trường nước ngoài tăng 4,5% về lượng nhưng giảm 2,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, đạt 304.904 tấn, thu về 2,82 tỷ USD. Giá xuất khẩu trung bình giảm 6,8%, đạt 9.239 USD/tấn.
Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu rau quả ra thị trường nước ngoài 10 tháng đầu năm 2018 tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2017, ước đạt 7,24 tỷ USD; trong đó, riêng tháng 10/2018 đạt 879,16 triệu USD, tăng 13% so với tháng liền kề trước đó và cũng tăng 2,7% so với cùng tháng năm 2017.
5Nếu như tháng 9/2018 xuất khẩu than các loại suy giảm cả lượng và trị giá, thì nay sang tháng 10 đã tăng mạnh trở lại, đặc biệt là về lượng tăng gấp 2,2 lần (tức tăng 122%) và trị giá tăng 84,1% so với tháng 9/2018 đạt 246,87 nghìn tấn, trị giá 30,34 triệu USD.
6Theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 10 tháng đầu năm 2018 có 52.769 ô tô nguyên chiếc nhập khẩu vào Việt Nam, giảm 31,8% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt kim ngạch trên 1,84 tỷ USD, giảm 30,3%.
7Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu thủy sản sang các thị trường trong 10 tháng đầu năm 2018 đạt 7,24 tỷ USD, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2017.
8Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, lượng xăng dầu nhập khẩu về Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2018 đạt 9,98 triệu tấn, giảm 5,4% so với 10 tháng đầu năm ngoái, nhưng kim ngạch lại tăng 14,4%, đạt 6,75 tỷ USD.
9Tuy không phải là những nhóm hàng chủ lực xuất khẩu sang thị trường Ấn Độ, nhưng nhóm hàng thủ công mỹ nghệ cụ thể là sản phẩm mây, tre tăng đột biến gấp 16,56 lần so với cùng kỳ năm 2017 tuy kim ngạch chỉ đạt 4,53 triệu USD.
10Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, lượng gạo xuất khẩu 10 tháng đầu năm 2018 ước đạt 5,25 triệu tấn, tương đương 2,64 tỷ USD, tăng 3% về khối lượng và tăng 15,7% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017. Giá xuất khẩu trung bình trong 10 tháng đầu năm 2018 đạt 503,9 USD/tấn, tăng 12,3% so với cùng kỳ.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự