Tuy là nhóm hàng chỉ xếp thứ 24 trong bảng xếp loại, nhưng 6 tháng đầu năm 2018 xuất khẩu dây điện và dây cáp điện sang thị trường Anh tăng đột biến, gấp 4,3 lần so với cùng kỳ 2017.

Tính hình xuất khẩu phân bón tính từ đầu năm cho đến nay
|
| Lượng (Tấn) | Trị giá (USD) | So sánh với tháng trước (%) | |
| Lượng | Trị giá | |||
| Tháng 1 | 46.342 | 15.016.891 | -21,8 | -10,0 |
| Tháng 2 | 23.117 | 5.954.284 | -50,1 | -60,3 |
| Tháng 3 | 46.761 | 13.204.496 | +102,3 | +121,8 |
| Tháng 4 | 65.741 | 16.423.716 | +40,6 | +24,4 |
| Tháng 5 | 55.295 | 15.110.539 | -15,9 | -8,0 |
(Nguồn: Số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam)
Việt Nam xuất khẩu phân bón chủ yếu sang các nước châu Á, trong đó Campuchia tiếp tục là thị trường chính nhập khẩu mặt hàng này, chiếm 24,6% tổng lượng phân bón xuất khẩu, với 58,5 nghìn tấn, trị giá 18,3 triệu USD, giảm 36,51% về lượng và giảm 47,86% về trị giá so với cùng kỳ 2015.
Thị trường chủ lực đứng thứ hai sau Campuchia là Philippin với 34,4 nghìn tấn, trị giá 11,1 triệu USD, nhưng tốc độ xuất khẩu phân bón sang thị trường này cũng giảm cả về lượng và trị giá, giảm lần lượt 24,76% và giảm 29,16%. Kế đến là thị trường Hàn Quốc, giảm 37,89% về lượng và giảm 53,64% về trị giá, tương ứng với 34,4 nghìn tấn, trị giá 8,6 triệu USD…
Nhìn chung, 5 tháng đầu năm nay, xuất khẩu mặt hàng phân bón của Việt Nam sang các thị trường đều giảm cả lượng và trị giá, duy nhất chỉ có xuất khẩu sang Lào là tăng 64,81% về lượng, nhưng lại giảm 10,59% về trị giá, tương ứng với 18,1 nghìn tấn, trị giá 4,2 triệu USD.
Thị trường có tốc độ suy giảm mạnh là Thái Lan, giảm 40,76% về lượng và giảm 45,73% về trị giá, tương ứng với 6,5 nghìn tấn, trị giá 1,8 triệu USD. Ngoài ra, lượng phân bón xuất khẩu sang một số thị trường với tốc độ giảm nhẹ như: Nhật Bản giảm 6,79%, Malaysia giảm 20,97% và Đài Loan giảm 24,05%.
Thống kê sơ bộ của TCHQ về thị trường xuất khẩu phân bón 5 tháng 2016
| Thị trường | 5T/2016 | So sánh cùng kỳ 2015 (%) | ||
| Lượng (Tấn) | Trị giá (USD) | Lượng | Trị giá | |
| Tổng cộng | 237.739 | 65.727.624 | -27,54 | -44,40 |
| Cămpuchia | 58.552 | 18.323.225 | -36,51 | -47,86 |
| Philipin | 34.405 | 11.171.751 | -24,76 | -29,16 |
| Hàn Quốc | 34.499 | 8.688.681 | -37,89 | -53,64 |
| Malaysia | 35.590 | 5.434.749 | -20,97 | -62,65 |
| Lào | 18.154 | 4.220.533 | 64,81 | -10,59 |
| Thái Lan | 6.564 | 1.857.562 | -40,76 | -45,73 |
| Nhật BẢn | 2.264 | 563.991 | -6,79 | -15,99 |
| Đài Loan | 1.238 | 304.866 | -24,05 | -25,94 |
Nguồn: VITIC/Vinanet
1Tuy là nhóm hàng chỉ xếp thứ 24 trong bảng xếp loại, nhưng 6 tháng đầu năm 2018 xuất khẩu dây điện và dây cáp điện sang thị trường Anh tăng đột biến, gấp 4,3 lần so với cùng kỳ 2017.
2Cán cân thương mại thâm hụt mạnh trong 15 ngày đầu tháng 7 khiến kim ngạch xuất siêu lũy kế từ đầu năm giảm. Đáng quan tâm là kim ngạch xuất khẩu liên tiếp có chiều hướng giảm.
3Trung Quốc đang là thị trường có mức tăng trưởng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong những tháng vừa qua.
46 tháng đầu năm, kim ngạch nhập khẩu thủy sản đạt 860,67 triệu USD, tăng 32,5% so với cùng kỳ năm 2017.
55 tháng đầu năm 2018, Việt Nam giảm nhập khẩu thép từ thị trường thế giới, đặc biệt là từ Trung Quốc, sau khi Mỹ tung “đòn” áp thuế nhằm ngăn chặn thép giá rẻ từ Trung Quốc.
66 tháng đầu năm 2018 lượng hạt điều xuất khẩu đạt 175.078 tấn, trị giá 1,7 tỷ USD, tăng 15,7% về lượng và tăng 15,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017.
6 tháng đầu năm 2018, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ tăng 9,66% so với cùng kỳ, trong đó các nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng chiếm 78,3% và ngược lại nhóm hàng suy giảm chỉ chiếm 21,6%.
8Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, thủy sản của Việt Nam xuất khẩu ra thị trường nước ngoài trong 6 tháng đầu năm 2018 tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2017, đạt 3,97 tỷ USD. Riêng tháng 6/2018 đạt 764,04 triệu USD, giảm nhẹ 0,2% so với tháng 5/2018.
9Trong 2 quí đầu năm cả nước xuất khẩu 1,88 triệu tấn dầu thô, thu về 1,05 tỷ USD, giảm rất mạnh 50,9% về lượng và giảm 31,4% về kim ngạch so với cùng kỳ.
10Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong 6 tháng đầu năm 2018 nhập khẩu xăng dầu vào Việt Nam đạt 7,07 triệu tấn, kim ngạch 4,66 tỷ USD, tăng 11,5% về lượng và tăng 40,4% về kim ngạch so với 6 tháng đầu năm 2017.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự