Xuất khẩu cao su nửa đầu năm nay tăng trưởng về lượng ở hầu khắp các thị trường, nhưng ngược lại kim ngạch giảm do giá xuất bình quân đồng loạt sụt giảm.

Theo thống kê sơ sộ của Tổng cục Hải quan, thủy sản nhập khẩu về Việt Nam 4 tháng đầu năm 2019 đạt 561,09 triệu USD, tăng 5,3% so với 4 tháng đầu năm 2018; trong đó riêng tháng 4/2019 đạt 148,6 triệu USD, tăng nhẹ 0,2% so với tháng 3/2019 và tăng 17,7% so với tháng 4/2018.
Các thị trường lớn cung cấp thủy sản cho Việt Nam là Na Uy, Ấn Độ, Trung Quốc, thị trường Đông Nam Á, Nhật Bản; trong đó nhập khẩu từ thị trường Na Uy chiếm 11,9% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 66,7 triệu USD, tăng 14,6% so với cùng kỳ năm trước; riêng tháng 4/2019 nhập khẩu từ thị trường này giảm mạnh 32,7% so với tháng 3/2019 và giảm 4,4% so với cùng tháng năm 2018, đạt 13,18 triệu USD.
Nhập khẩu từ thị trường Ấn Độ đạt 64,62 triệu USD, chiếm 11,5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu, giảm mạnh 44,7% so với cùng kỳ; riêng tháng 4/2019 đạt 20,46 triệu USD, tăng 31,5% so với tháng 3/2019 nhưng giảm 20,3% so với tháng 4/2018.
Thủy sản nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á trong tháng 4/2019, tăng tương đối mạnh 27% so với tháng 3/2019 và tăng mạnh 124,3% so với tháng 4/2018, đạt 17,02 triệu USD; nâng kim ngạch cả 4 tháng từ thị trường này lên 58,75 triệu USD, chiếm 10,5%, tăng 48%.
Nhập khẩu từ thị trường Trung Quốc đạt 48,86 triệu USD, chiếm 8,7% trong tổng kim ngạch nhập khẩu, tăng mạnh 45,3% so với cùng kỳ; riêng tháng 4/2019 đạt 12,72 triệu USD, giảm 16,4% so với tháng 3/2019 nhưng tăng 38,4% so với tháng 4/2018.
Tiếp đến thị trường Nhật Bản chiếm 7,6% trong tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 42,61triệu USD, tăng 36,2.
Nhìn chung, trong 4 tháng đầu năm nay, nhập khẩu thủy sản từ đa số các thị trường tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó các thị trường tăng mạnh như: Philippines tăng 76,8%, đạt 5,16 triệu USD;. Indonesia tăng 66,7%, đạt 38,46 triệu USD; Mỹ tăng 60,3%, đạt 26,16triệu USD; Đan Mạch tăng 42,8%, đạt 9,15 triệu USD.
Ngược lại, Việt Nam giảm mạnh nhập khẩu thủy sản từ các thị trường như: Ba Lan giảm 39%, đạt 1,77 triệu USD; Malaysia giảm 16,2%, đạt 1,83 triệu USD; Chile giảm 12,7%, đạt 25,79 triệu USD.
Nhập khẩu thủy sản 4 tháng đầu năm 2019
| Thị trường | T4/2019
| +- so tháng 3/2019 (%)* | +- so tháng 4/2018 (%)* | 4T/2019 | +/- so cùng kỳ năm trước (%)* |
| Tổng cộng | 148.604.132 | 0,15 | 17,69 | 561.089.745 | 5,27 |
| Na Uy | 13.175.626 | -32,73 | -4,42 | 66.703.164 | 14,55 |
| Ấn Độ | 20.460.826 | 31,45 | -20,26 | 64.617.369 | -44,72 |
| Trung Quốc đại lục | 12.719.403 | -16,36 | 38,42 | 48.864.849 | 45,34 |
| Nhật Bản | 8.850.343 | -26,14 | 23,75 | 42.608.004 | 36,15 |
| Indonesia | 9.638.976 | 14,2 | 189,84 | 38.459.865 | 66,69 |
| Đài Loan(TQ) | 10.604.933 | 9,07 | 35,59 | 35.735.266 | -2,42 |
| Nga | 8.259.255 | 15,01 | 56,22 | 32.268.820 | 25,1 |
| Mỹ | 10.889.129 | 132,72 | 91,23 | 26.160.515 | 60,32 |
| Chile | 7.421.789 | -6,26 | -4,49 | 25.794.156 | -12,68 |
| Hàn Quốc | 2.778.336 | -61,21 | -51,95 | 24.430.211 | 11,78 |
| Đan Mạch | 1.938.010 | -40,14 | 87,29 | 9.147.170 | 42,8 |
| Thái Lan | 2.177.542 | 4,24 | 30,5 | 8.306.561 | 21,29 |
| Canada | 2.168.798 | 8,2 | 0,54 | 7.740.303 | -6,52 |
| Anh | 1.322.300 | -4,76 | -19,11 | 7.058.488 | 10,12 |
| Philippines | 3.261.747 | 378,25 | 392,86 | 5.163.999 | 76,81 |
| Singapore | 1.193.282 | -21,44 | 9,51 | 4.128.065 | 7,07 |
| Malaysia | 563.892 | 8,57 | -19,95 | 1.832.531 | -16,22 |
| Ba Lan | 531.272 | -8,16 | 23,53 | 1.767.521 | -38,96 |
| Ireland | 985.625 | 157,21 |
| 1.549.093 |
|
| Myanmar | 188.253 | 21,14 | 34,76 | 857.279 | 7,66 |
(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)
Theo Vinanet.vn
1Xuất khẩu cao su nửa đầu năm nay tăng trưởng về lượng ở hầu khắp các thị trường, nhưng ngược lại kim ngạch giảm do giá xuất bình quân đồng loạt sụt giảm.
2Trong bối cảnh giá heo hơi trong nước tăng mạnh do nguồn cung hạn hẹp, thịt heo ngoại tiếp tục được nhập ồ ạt với mức giá trung bình chỉ khoảng 35.500 đồng/kg.
36 tháng đầu năm, lượng sắt thép cả nước nhập về là 6,88 triệu tấn, trị giá 4,93 tỷ USD, giảm 12,9% về lượng nhưng tăng 6,4% về trị giá so với cùng kỳ.
4Tuy là nhóm hàng chỉ xếp thứ 24 trong bảng xếp loại, nhưng 6 tháng đầu năm 2018 xuất khẩu dây điện và dây cáp điện sang thị trường Anh tăng đột biến, gấp 4,3 lần so với cùng kỳ 2017.
5Cán cân thương mại thâm hụt mạnh trong 15 ngày đầu tháng 7 khiến kim ngạch xuất siêu lũy kế từ đầu năm giảm. Đáng quan tâm là kim ngạch xuất khẩu liên tiếp có chiều hướng giảm.
6Trung Quốc đang là thị trường có mức tăng trưởng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong những tháng vừa qua.
75 tháng đầu năm 2018, Việt Nam giảm nhập khẩu thép từ thị trường thế giới, đặc biệt là từ Trung Quốc, sau khi Mỹ tung “đòn” áp thuế nhằm ngăn chặn thép giá rẻ từ Trung Quốc.
86 tháng đầu năm 2018 lượng hạt điều xuất khẩu đạt 175.078 tấn, trị giá 1,7 tỷ USD, tăng 15,7% về lượng và tăng 15,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2017.
9Nếu như tháng 5/2018 xuất khẩu phân bón của cả nước đã lấy lại đà tăng trưởng, thì nay sang tháng 6 giảm trở lại, giảm 33,3% về lượng và 33,3% trị giá so với tháng trước tương ứng với 65,4 nghìn tấn; 21,1 triệu USD.
6 tháng đầu năm 2018, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ tăng 9,66% so với cùng kỳ, trong đó các nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng chiếm 78,3% và ngược lại nhóm hàng suy giảm chỉ chiếm 21,6%.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự