4 tháng đầu năm 2019, cán cân thương mại Việt Nam thặng dư 13,47 tỷ USD trong thương mại hàng hóa với Mỹ, tăng 30,7% so với cùng kỳ năm 2018.

Nếu như trong tháng cuối năm 2018, xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu giảm 7,6% thì nay tháng đầu năm 2019 đã lấy lại đà tăng trưởng 10,1% so với tháng 12/2018 đạt 49,8 triệu USD.
Hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu trên 1 tỷ USD mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu, tuy nhiên xuất khẩu mặt hàng này luôn tăng trưởng và đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Cụ thể, nếu như năm 2016 kim ngạch đạt 586,47 triệu USD, tăng 15,7% so với năm 2015, thì sang năm 2017 đạt 609,74 triệu USD, tăng 4% so với năm 2016, kết thúc năm 2018 đạt 695,79 triệu USD chiếm 0,28% tỷ trọng tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, tăng 14,2% so với năm 2017. Năm 2018, Việt Nam xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chủ yếu sang các nước Đông Nam Á, chiếm 32,8% tỷ trọng, đạt 228,44 triệu USD, tăng 7,08% so với năm 2017. Thị trường được xuất nhiều đứng thứ hai là Trung Quốc chiếm 30,8% đạt 214,82 triệu USD, tăng 7,47%.
Sang năm 2019, cụ thể tháng đầu năm, xuất khẩu nhóm hàng này đã thu về gần 50 triệu USD, đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước 0,22% tỷ trọng, giảm 4,5% so với cùng kỳ năm trước, nhưng tăng 10,1% so với tháng 12/2018.
Đông Nam Á tiếp tục là thị trường xuất khẩu chủ lực, chiếm 42,8% tỷ trọng đạt 21,36 triệu USD, tăng 8,71% so với cùng kỳ năm trước và tăng 19,77% so với tháng 12/2018.
Trong đó, dẫn đầu kim ngạch là thị trường Campuchia, đạt 9,82 triệu USD, tăng 12,55% so với tháng 12/2018 và tăng 23,28% so với cùng kỳ năm trước.
Đứng thứ hai về kim ngạch sau thị trường Campuchia là Nhật Bản, tuy chỉ đạt 713 triệu USD, nhưng tăng gấp 3,7 lần (tức tăng 273,4%) so với tháng 12/2018 và tăng gấp 2,9 lần (tức tăng 190,67%) so với tháng 1/2018 – đây cũng là thị trường có mức tăng vượt trội so với những thị trường khác.
Ngoài ra, Việt Nam còn xuất sang các thị trường khác như Ấn Độ, Trung Quốc đại lục, Thái Lan, Mỹ, Đài Loan (TQ), Hàn Quốc…
Bên cạnh thị trường Nhật Bản có tốc độ tăng mạnh, thì xuất sang Indonesia cũng có mức tăng khá, tuy chỉ đạt 841,6 nghìn USD, nhưng tăng gấp 2,4 lần (tức tăng 136,53%) so với cùng kỳ năm 2018, mặc dù giảm 10,89% so với tháng 12/2018.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu sang Trugn Quốc và Thái Lan lại sụt giảm mạnh, giảm lần lượt 59,57% và 58,56% tương ứng với 5,9 triệu USD và trên 2 triệu USD.
Thị trường xuất khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu tháng 1/2019
| Thị trường | T1/2019 (USD) | +/- so với T12/2018 (%)* | +/- so với T1/2018 (%)* |
| Campuchia | 9.826.401 | 12,55 | 23,28 |
| Nhật Bản | 7.139.778 | 273,4 | 190,67 |
| Malaysia | 6.630.666 | 28,74 | 37 |
| Trung Quốc | 5.975.349 | -52,95 | -59,57 |
| Ấn Độ | 4.481.902 | 96,87 | -2,69 |
| Hoa Kỳ | 2.980.963 | -31,25 | -8,03 |
| Thái Lan | 2.028.365 | 21,16 | -58,56 |
| Đài Loan | 1.895.956 | 39,99 | -25,91 |
| Philippines | 1.714.455 | 74,41 | 30,36 |
| Hàn Quốc | 1.518.788 | -26,34 | 51,38 |
| Bangladesh | 935.465 | 508,62 | -10,12 |
| Indonesia | 841.659 | -10,89 | 136,53 |
| Singapore | 324.646 | -8,68 | 16,65 |
(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)
14 tháng đầu năm 2019, cán cân thương mại Việt Nam thặng dư 13,47 tỷ USD trong thương mại hàng hóa với Mỹ, tăng 30,7% so với cùng kỳ năm 2018.
Sau khi tăng trưởng ở tháng 3/2019, thì nay sang tháng 4/2019 xuất khẩu sản phẩm mây, tre, cói và thảm kim ngạch sụt giảm trở lại, giảm 6,8% so với tháng 3/2019 xuống còn 37,16 triệu USD, nhưng nếu tính chung 4 tháng đầu năm 2019 tăng 40,4% so với cùng kỳ năm trước, đạt 144,71 triệu USD.
3Thái Lan là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong ASEAN với kim ngạch thương mại song phương năm 2018 đạt hơn 17 tỷ USD và phấn đấu đạt 20 tỷ USD vào năm 2020.
4Tuy là mặt hàng kim ngạch nhập khẩu 4 tháng đầu năm 2019 chỉ đạt trên 45 triệu USD, nhưng so với cùng kỳ 2018 tốc độ nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử từ Ấn Độ của Việt Nam tăng trưởng vượt trội.
5Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 4 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2018, đạt 9,46 tỷ USD, chiếm 14,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại của cả nước.
6Sau 44 năm kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1975, Việt Nam và New Zealand đang có mối quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước, tạo đà mở rộng các lĩnh vực hợp tác và ngày càng được củng cố và tăng cường. Chính vì vậy, 4 tháng đầu năm 2019, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu sang thị trường này đã tăng 15,11% lên 180,93 triệu USD.
7Theo số liệu thống kê của Hải quan Việt Nam, 4 tháng đầu năm 2019, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 2 chiều giữa Vệt Nam – Trung Quốc đạt 33,24 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm 2018.
8Xuất khẩu phân bón đã lấy lại đà tăng trưởng, tháng 4/2019 là tháng tăng thứ hai liên tiếp. Trong số những thị trường nhập khẩu phân bón của Việt Nam, thì Nhật Bản tăng vượt trội cả về lượng và trị giá.
9Trong năm 2018, mặc dù quan hệ ngoại giao - chính trị giữa Việt Nam và Thổ Nhĩ Kỳ có bước tiến mới, nhưng quan hệ thương mại không có nhiều biến chuyển, thậm chí kim ngạch thương mại song phương còn sụt giảm, quan hệ đầu tư giữa hai nước hầu như không có tiến triển. Bốn tháng đầu năm 2019, tình hình cũng chưa mấy sáng sủa khi số liệu thống kê sơ bộ từ Tổng cục Hải quan cho thấy, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường Thổ Nhỹ sụt giảm 26,13% so với cùng kỳ năm ngoái đạt 445,66 triệu USD.
10Xuất khẩu giấy và sản phẩm sang hai thị trường Đức và Anh tăng vượt trội so với cùng kỳ, tuy kim ngạch xuất sang những thị trường này cao nhất chỉ đạt trên 2 triệu USD.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự