Xuất khẩu hàng dệt may 5 tháng đầu năm 2019 đạt 12,19 tỷ USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2018.

Theo phản ánh của cơ quan Hải quan, việc thực hiện thủ tục hải quan cho những lô hàng phế liệu NK gặp vướng mắc do những quy định chưa rõ ràng tại Thông tư 41/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về bảo vệ môi trường trong NK phế liệu làm nguyên liệu sản xuất.
Chưa rõ ràng
Theo quy định về bảo vệ môi trường trong kiểm tra, thông quan phế liệu NK tại điểm a khoản 3 Điều 10 Thông tư 41/2015/TT-BTNMT, tổ chức cá nhân ủy thác NK phế liệu phải nộp một Giấy xác nhận NK phế liệu của tổ chức, cá nhân nhận ủy thác NK phế liệu. Tuy nhiên, Thông tư lại không quy định nộp bản chính, bản sao hay bản sao chứng thực của giấy xác nhận. Theo Cục Giám sát quản lý về hải quan, Giấy xác nhận DN chỉ có duy nhất một bản nên việc chỉ yêu cầu DN nộp bản sao chứng thực là hợp lý. Nếu thực hiện như vậy cũng tương tương tự như quy định tại điểm a khoản 2 Điều 10 Thông tư 41/2015/TT-BTNMT, chỉ yêu cầu DN nộp bản sao chứng thực.
Bên cạnh đó, tại điểm d khoản 2, điểm e khoản 3 Điều 10 Thông tư 41/2015/TT-BTNMT quy định về chứng từ phải nộp cho cơ quan Hải quan trong đó có văn bản chứng nhận hợp quy do tổ chức chứng nhận phù hợp được Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ định. Tuy nhiên, Thông tư không quy định rõ văn bản chứng nhận hợp quy này có thay thế hoặc tương đương chứng thư giám định không và thời điểm DN phải nộp cho cơ quan Hải quan văn bản này. Cục Giám sát quản lý về hải quan cho rằng, văn bản chứng nhận hợp quy được hiểu là chứng thư giám định và được nộp trước khi thông quan hàng hóa.
Liên quan đến thời hạn sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện NK phế liệu, tại khoản 3 Điều 15 Thông tư 41/2015/TT-BTNMT quy định các tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện NK phế liệu làm nguyên liệu sản xuất được tiếp tục sử dụng đến hết thời hạn hiệu lực của Giấy chứng nhận và phải đáp ứng các điều kiện về bảo vệ môi trường trong NK phế liệu làm nguyên liệu sản xuất theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 56 Nghị định 38/2015/NĐ-CP.
Theo Cục Giám sát quản lý về hải quan, trên giấy chứng nhận đủ điều kiện NK phế liệu cấp theo Thông tư liên tịch 34/2012/TTLT-BCT-BTNMT không thể hiện hoặc thể hiện không đầy đủ việc đáp ứng các điều kiện quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 56 Nghị định 38/2015/NĐ-CP của tổ chức, cá nhân NK. Trường hợp này, cơ quan Hải quan không có căn cứ để xác định tổ chức, cá nhân NK phế liệu có đáp ứng các điều kiện này hay không trong quá trình giải quyết các thủ tục thông quan cho lô hàng phế liệu NK. Cục Giám sát quản lý về hải quan cho rằng, đối với tổ chức, cá nhân NK phế liệu theo giấy chứng nhận được cấp theo Thông tư 34/2012/TTLT-BCT-BTNMT còn hiệu lực tự chịu trách nhiệm về việc đáp ứng các điều kiện về bảo vệ môi trường trong NK phế liệu theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 56 Nghị định 38/2015/NĐ-CP.
Để thuận lợi cho DN và cơ quan Hải quan giải quyết thủ tục, Tổng cục Hải quan cũng đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường cập nhật danh sách các tổ chức chức tham gia chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu NK làm nguyên liệu sản xuất đã được Bộ chỉ định trên Cổng thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Thông tư 41/2015/TT-BTNMT.
Làm rõ một số thủ tục
Cục Giám sát quản lý về hải quan cho biết, một số vướng mắc khi thực hiện Thông tư 41/2015/TT-BTNMT đã được tháo gỡ. Cụ thể Cục Kiểm soát ô nhiểm (Tổng cục Môi trường) đồng thuận ý kiến đề xuất của Cục Giám sát quản lý về hải quan như: DN ủy thác NK phế liệu được nộp bản sao chứng thực giấy xác nhận NK phế liệu của tổ chức, cá nhân nhận ủy thác NK phế liệu. Cùng với đó, văn bản chứng nhận hợp quy được hiểu là chứng thư giám định và được nộp trước khi thông quan hàng hóa.
Hiện danh sách các đơn vị đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ định tham gia chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật môi trường đối với phế liệu NK làm nguyên liệu sản xuất đã được cập nhật trên websitewww.vea.gov.vn của Tổng cục Môi trường.
Liên quan đến thời hạn sử dụng Giấy chứng nhận đủ điều kiện NK phế liệu, Tổng cục Môi trường cho biết, các đơn vị chứng nhận phù hợp quy chuẩn kỹ thuật đối với phế liệu NK phải tiến hành việc giám định phế liệu NK chưa có quy chuẩn kỹ thuật theo các tiêu chí hướng dẫn của Bộ Tài nguyên và Môi trường để có chứng thư giám định gửi tổ chức, cá nhân NK phế liệu làm thủ tục thông quan lô hàng phế liệu NK theo đúng quy định.
Theo đó, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hướng dẫn tạm thời về mô tả phế liệu, yêu cầu chất lượng và mục đích sử dụng phế liệu NK làm nguyên liệu sản xuất tại công văn 2570/BTNMT-TCMT ngày 25-6-2015. Cơ quan Hải quan khi thực hiện thủ tục kiểm tra, thông quan phế liệu NK làm nguyên liệu sản xuất thì áp dụng theo hướng dẫn tạm thời này cho đến khi các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với phế liệu được ban hành. Các DN NK phế liệu phải thực hiện việc ký quỹ bảo đảm phế kiệu theo quy định tại Nghị định 38/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý chất thải và phế liệu.
1Xuất khẩu hàng dệt may 5 tháng đầu năm 2019 đạt 12,19 tỷ USD, tăng 11,7% so với cùng kỳ năm 2018.
2Trong 5 tháng đầu năm nay, xuất khẩu hạt tiêu sang hầu hết các thị trường sụt giảm kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ có 2 thị trường tăng kim ngạch là Thổ Nhĩ Kỳ và Đức.
35 tháng đầu năm 2019 kim ngạch xuất khẩu rau quả của cả nước đạt 1,76 tỷ USD, tăng 5,9% so với 5 tháng đầu năm 2018.
4Sau khi sụt giảm ở tháng 4/2019, sang tháng 5/2019 xuất khẩu cao su đã tăng trở lại cả về lượng và trị giá, tăng lần lượt 2,7%; 3,1% đạt 77,4 nghìn tấn, trị giá 111,7 triệu USD.
5Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, trong 5 tháng đầu năm 2019 cả nước xuất khẩu 1,06 triệu tấn sắn và các sản phẩm từ sắn, giảm 19% so với cùng kỳ năm trước; thu về 409,02 triệu USD, giảm 12,6%; giá xuất khẩu trung bình đạt 385 USD/tấn, tăng 7,9%.
6Kim ngạch xuất khẩu gỗ, sản phẩm gỗ 5 tháng đầu năm 2019 đạt gần 4,02 tỷ USD, tăng 19,1% so với cùng kỳ năm 2018.
7Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Hy Lạp trong 5 tháng đầu năm 2019 đạt 111,84 triệu USD, tăng 14,12% so với cùng kỳ năm 2018.
8Về kinh tế, trao đổi thương mại giữa hai nước tăng vượt bậc, gấp 3 lần trong vòng 10 năm qua (từ 1,5 tỷ USD năm 2009 lên hơn 4,6 tỷ USD năm 2018). Việt Nam đang là đối tác thương mại lớn nhất của Italy tại ASEAN và ngược lại, Italy là đối tác thương mại lớn thứ 3 của Việt Nam trong EU.
9Kể từ khi Việt Nam và Ấn Độ thiết lập quan hệ ngoại giao (7/1/1972), phát triển thành đối tác chiến lược (7/2007) và trở thành đối tác chiến lược toàn diện (9/2016), thương mại hai chiều Việt Nam - Ấn Độ từng bước khởi sắc. Hệ thống chính sách, pháp luật về thương mại giữa Việt Nam và Ấn Độ đã và đang xây dựng, đổi mới, hoàn thiện theo hướng hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế toàn cầu.
10Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, tháng 5/2019 cả nước đã nhập khẩu 330,36 nghìn tấn phân bón các loại, trị giá 95,96 triệu USD, giảm 10% về lượng và giảm 12,4% về trị giá so với tháng 4/2019.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự