Nhật Bản là thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại than xuất khẩu của nước ta. Trong 7 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu sang Nhật 538.465 tấn than đá, thu về 70,3 triệu USD.

Mặc dù tháng 10 năm 2018, xuất khẩu đá quý kim loại quý của Việt Nam tăng trưởng trở lại đạt 62,15 triệu USD, nâng kim ngạch 10 tháng năm 2018 lên 508,42 triệu USD, nhưng ngược lại cũng phải nhập tới 570,14 triệu USD. Như vậy, tính từ đầu năm đến hết tháng 10/2018 đã nhập siêu 61,71 triệu USD, tăng 95,7% so với cùng kỳ.
Sau khi kim ngạch sụt giảm ở tháng 9/2018 (28,7%) thì nay sang tháng 10/2018 xuất khẩu đá quý, kim loại quý và sản phẩm đã lấy lại đà tăng trưởng 42% đạt 62,15 triệu USD, nâng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này 10 tháng năm 2018 lên 508,42 triệu USD, tăng 12,2% so với cùng kỳ 2017.
Trong số thị trường nhập khẩu đá quý, kim loại quý và sản phẩm của Việt Nam, thì Mỹ là thị trường chủ lực chiếm 62,8% tỷ trọng đạt 319,34 triệu USD, tăng 36,62% - đây cũng là tốc độ tăng mạnh nhất. Tính riêng tháng 10/2018 đạt 38,24 triệu USD, tăng 49,41% so với tháng 9/2018 và tăng 27,58% so với tháng 10/2017.
Đứng thứ hai về kim ngạch là thị trường Nhật Bản, đạt 51,8 triệu USD, tăng 5,59% so với cùng kỳ, riêng tháng 10/2018 đạt 6,67 triệu USD, tăng 42,91% so với tháng 9/2018 và tăng 9,74% so với tháng 10/2017.
Kế đến là các thị trường Hongkong (TQ); Pháp, Hàn Quốc, Bỉ…. Nhìn chung, 10 tháng đầu năm 2018 kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường nhập khẩu mặt hàng này từ Việt Nam đều tăng trưởng, số này chiếm 57% và ngược lại thị trường suy giảm chiếm 43%.
Đặc biệt, thời gian này thị trường Thụy Sỹ, Bỉ và UAE giảm mạnh nhập khẩu đá quý, kim loại quý từ Việt Nam đều trên 50%. Cụ thể, Thụy Sỹ giảm nhiều nhất 98,86% chỉ với 380,5 nghìn USD; Bỉ giảm 61,01% với 13,12 triệu USD và UAE giảm 50,09% xuống 3,11 nghìn USD.
Ở chiều ngược lại, 10 tháng đầu năm 2018 Việt Nam cũng phải nhập tới 570,14 triệu USD đá quý, kim loại quý và sản phẩm, tăng 17,6% so với 10 tháng năm 2017. Riêng tháng 10/2018 đã nhập tới 78,16 triệu USD, tăng 21,1% so với tháng 9/2018.
Như vậy, tính từ đầu năm đến hết tháng 10/2018 Việt Nam đã nhập siêu 61,71 triệu USD nhóm hàng này, tăng 95,7% so với cùng kỳ.
Việt Nam nhập khẩu chủ yếu từ thị trường Ấn Độ đạt 135,82 triệu USD trong 10 tháng đầu năm 2018, tăng 38,22% so với cùng kỳ 2017, riêng tháng 10/2018 đã nhập từ thị trường này 22 triệu USD, tăng 38,79% so với tháng 9/2018 và tăng 18,26% so với tháng 10/2017.
Thị trường xuất khẩu đá quý, kim loại quý và sản phẩm 10 tháng 2018
| Thị trường | T10/2018 (USD) | +/- so với T9/2018 (%)* | 10T/2018 (USD) | +/- so với cùng kỳ 2017 (%)* |
| Mỹ | 38.248.528 | 49,41 | 319.342.748 | 36,62 |
| Nhật Bản | 6.670.208 | 42,91 | 51.844.824 | 5,59 |
| HongKong (TQ) | 2.083.076 | -19,73 | 27.247.218 | -11,59 |
| Pháp | 2.835.973 | 47,3 | 20.891.700 | 22,15 |
| Hàn Quốc | 1.373.266 | -9,69 | 14.343.008 | 2,33 |
| Bỉ | 2.338.943 | 48,13 | 13.120.080 | -61,01 |
| Australia | 1.737.773 | 69,17 | 11.092.916 | 0,18 |
| Đức | 572.852 | 14,82 | 4.126.784 | -17,01 |
| Anh | 428.066 | 23 | 3.209.265 | 51,9 |
| UAE | 359.271 | -9,26 | 3.110.157 | -50,09 |
| Thái Lan | 322.246 | 0,35 | 2.415.771 | 29,06 |
| Tây Ban Nha | 462.259 | 80,96 | 2.261.172 | 5,47 |
| Đài Loan | 203.620 | 532,54 | 705.332 | -20,53 |
| Thụy Sỹ | 54.893 |
| 380.519 | -98,86 |
(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)
Theo Vinanet.vn
1Nhật Bản là thị trường tiêu thụ nhiều nhất các loại than xuất khẩu của nước ta. Trong 7 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu sang Nhật 538.465 tấn than đá, thu về 70,3 triệu USD.
2Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tháng 7/2018, xuất khẩu rau quả của cả nước ước đạt 345,31 triệu USD, tăng 5,9% so với tháng 6/2018 nhưng giảm 3,9% so với tháng 7/2017. Tính chung cả 7 tháng đầu năm, kim ngạch ước đạt 2,33 tỷ USD, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm 2017.
3Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu chè của Việt Nam trong tháng 7/2018 đạt 11.671 tấn, thu về 20,03 triệu USD, giảm 0,06% về lượng và giảm 1,9% về kim ngạch so với tháng 6/2018. So với tháng 7/2017 cũng giảm 13,6% về lượng và giảm 12,8% về kim ngạch.
4Theo số liệu từ TCHQ, 7 tháng đầu năm 2018 nhóm hàng thủ công mỹ nghệ đã góp vào kim ngạch xuất khẩu của cả nước 5,67 tỷ USD, chiếm 4,22% tỷ trọng.
5Tính đến hết tháng 7/2018, lượng tiêu xuất khẩu của Việt Nam chỉ đạt 21,3 nghìn tấn, trị giá 66,2 triệu USD, giảm 3,2% về lượng và giảm 6% trị giá so với tháng 6/2018 – đây là tháng giảm thứ tư liên tiếp.
6Tháng 7/2018 kim ngạch xuất khẩu giấy và vản phẩm giảm 14,8% so với tháng 6/2018 xuống còn 85,4 triệu USD, nhưng nếu tính chung từ đầu năm đến hết tháng 7/2018 đạt 591,5 triệu USD, tăng 59,1% so với cùng kỳ 2017.
7Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, kim ngạch nhập khẩu hàng hoá từ Trung Quốc trong 7 tháng đầu năm nay tăng khá mạnh trên 13% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 35,73 tỷ USD, trong đó có nhiều mặt hàng là nguyên liệu sản xuất và hàng thương mại, tiêu dùng.
8Trong nhóm hàng nhiên liệu nhập khẩu, thì khí đốt hóa lỏng nhập khẩu chiếm thị phần thấp nhất 0,3% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước, so với cùng kỳ tăng cả lượng và trị giá. Trong đó, Trung Quốc là thị trường chủ lực chiếm 36,1% tổng lượng nhóm hàng.
9Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu nhóm hàng xơ sợi dệt trong 7 tháng đầu năm 2018 tăng mạnh 17% về lượng và tăng 33,3% về lượng so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 580.831 tấn, tương đương gần 1,36 tỷ USD.
107 tháng đầu năm nay, lượng bông nhập về Việt Nam đã đạt trên 1 triệu tấn, tăng 29,3% so với cùng kỳ năm 2017, trị giá 1,87 tỷ USD, tăng 32,9%.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự