Phải đến năm 2038 Việt Nam mới bắt kịp năng suất lao động của Philipines, và phải đến năm 2069 mới bắt kịp năng suất lao động của Thái Lan; trong khi khoảng cách với Trung Quốc lại tiếp tục gia tăng đáng kể.

Theo Tổng cục Thống kê, tính chung 8 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,9% so với cùng kỳ năm 2014.
Trong đó, ngành khai khoáng tăng 8%, đóng góp 2,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành chế biến, chế tạo tăng 10,4%, đóng góp 7 điểm phần trăm; ngành sản xuất, phân phối điện tăng 11,4%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý nước thải, rác thải tăng 6,9%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm.
Một số ngành có chỉ số sản xuất 8 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 40,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 30,1%... Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,1%; khai khoáng khác tăng 12,1%.
Một số ngành có mức tăng thấp: Sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 8,4%; khai thác dầu khô và khíđốt tự nhiên tăng 8,3%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 7,6%; khai thác than cứng và than non tăng 5,8%.
Trong 8 tháng năm nay, một số sản phẩm công nghiệp có chỉ số sản xuất tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ô tô tăng 59,2%; điện thoại di động tăng 58,1%; ti vi tăng 39,4%; giày, dép da tăng 24,7%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như: Thái Nguyên tăng 193,6%; Quảng Nam tăng 34,8%; Hải Phòng tăng 14,8%; Đà Nẵng tăng 13,2%.
Tiêu thụvà tồn kho đều tăng
Tính chung 7 tháng, chỉ số tiêu thụ tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao, gồm: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 38,9%; sản xuất xe có động cơ tăng 29,9%; sản xuất kim loại tăng 23%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 10,5%.
Tuy nhiên, chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 1/8 tăng 10,1% so với cùng thời điểm năm 2014.
Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung, như sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 4,2%; sản xuất trang phục tăng 3,1%.
Một số ngành có chỉ số tồn kho giảm, gồm sản xuất thiết bị điện giảm 2,6%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 3%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất giảm 9,9%.
Tỉ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 7 tháng năm 2015 là 74,6%, trong đó, một số ngành có tỉ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 146,3%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 115,7%; sản xuất chế biến thực phẩm 101,1%.
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/8/2015 tăng 6,3% so với cùng thời điểm năm trước. Lao động của các doanh nghiệp tại thời điểm 1/8 so với cùng thời điểm năm trước của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có quy mô công nghiệp lớn như sau: Thái Nguyên tăng 43,3%; Vĩnh Phúc tăng 18%.
1Phải đến năm 2038 Việt Nam mới bắt kịp năng suất lao động của Philipines, và phải đến năm 2069 mới bắt kịp năng suất lao động của Thái Lan; trong khi khoảng cách với Trung Quốc lại tiếp tục gia tăng đáng kể.
2Với kịch bản xấu nhất, giá dầu có thể về 30 USD một thùng, khiến ngân sách năm 2015 hụt thu nặng và tạo áp lực lên tăng trưởng kinh tế.
3Việt Nam hiện chỉ có 400.000 doanh nghiệp đang hoạt động, con số này là quá thấp so với dân số 90 triệu dân và cũng quá thấp do với các nước, vùng lãnh thổ trong khu vực.
4Con số này phần nào cho thấy, sau những bối rối ban đầu, doanh nghiệp đã dần bắt nhịp được với việc thực hiện đăng ký kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp mới.
5Vấn đề của Việt Nam đang đối mặt không phải là lựa chọn “đúng” doanh nghiệp hay ngành cho 20 năm tới, mà là sắp đặt đúng vị trí cấu trúc, thể chế và hạ tầng để tạo nên một nền kinh tế tư nhân mạnh mẽ. Trong đó các nguồn lực có thể dịch chuyển nhanh chóng về phía những doanh nghiệp có sức cạnh tranh.
6Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2015 khai mạc sáng 27/8, Giám đốc Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam Victoria Kwakwa ngồi ở bàn chủ tọa, còn trình bày tham luận của ngân hàng này là chuyên gia kinh tế trưởng của WB Sandeep Mahajan.
7Trước đây khi Việt Nam gia nhập WTO nhiều người đã ví von rằng đó là những “hạm đội thuyền thúng” ra biển lớn. Do đó, ông Thiên cho rằng, cần phải xem lại “hạm đội thuyền thúng” ra biển đến này như thế nào?
8Ông Trần Đình Thiên – Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho rằng, giá dầu giảm không chỉ nên bàn đến chuyện ngân sách thiệt mà ngân sách cũng phải hưởng lợi từ việc đó, người tiêu dùng cũng phải được hưởng lợi; tức là phải “cưa” lợi ích ra.
9GDP bình quân đầu người của Việt Nam đi sau Hàn Quốc khoảng 30 – 35 năm; sau Malaysia khoảng 25 năm; Thái Lan sau 20 năm và Indonesia, Philippines khoảng 5 – 7 năm.
10Không đậm đặc như một số phiên thảo luận ở các diễn đàn trước, song nỗi lo từ “yếu tố Trung Quốc” với hội nhập và phát triển bền vững của kinh tế Việt Nam vẫn xuất hiện trong Diễn đàn Kinh tế Mùa thu 2015, vừa diễn ra tại Thanh Hóa.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự