Theo số liệu thống kê, nếu như tháng 6/2018 kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm của Việt Nam sụt giảm, thì sang tháng 7/2018 đã tăng trở lại, tăng 13,9% đạt 76,3 triệu USD.

Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, quý 1/2019 cả nước xuất khẩu gần 8,56 triệu tấn xi măng và clinker, thu về 364,57 triệu USD, tăng 0,6% về lượng và tăng 22,8% về kim ngạch so với quý 1/2018. Giá xuất khẩu tăng 22%, đạt trung bình 42,6 USD/tấn.
Riêng tháng 3/2019 xuất khẩu tăng mạnh gần 50% cả về lượng và kim ngạch so với tháng 2/2019, đạt 3,43 triệu tấn, tương đương 145,33 triệu USD; so với cùng tháng năm 2018 thì giảm 2,1% về lượng nhưng tăng 20,3% về kim ngạch.
Trung Quốc là thị trường tiêu thụ hàng đầu xi măng clinker của Việt Nam đạt mức tăng rất mạnh 116,5% về lượng và tăng 163,5% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018, đạt 2,89 triệu tấn, tương đương 111,79 triệu USD chiếm 33,7% trong tổng lượng xuất khẩu xi măng và clinker của cả nước và chiếm 30,7% trong tổng kim ngạch.
Xi măng clinker xuất khẩu sang Philippines đạt 2,03 triệu tấn, trị giá 102,07 triệu USD, chiếm 23,7% trong tổng lượng và chiếm 28% trong tổng kim ngạch, tăng 24,4% về lượng và tăng 44,4% về kim ngạch.
Xuất khẩu sang thị trường Bangladesh giảm rất mạnh 56,9% về lượng và giảm 46,6% về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 1,41 triệu tấn, tương đương 55,05 triệu USD, chiếm 16,5% trong tổng lượng và chiếm 15,1% trong tổng kim ngạch.
Trong quý 1 năm nay, ngoài thị trường Bangladesh sụt giảm mạnh cả về lượng và kim ngạch như trên, thì có thêm thị trường ChiLe cũng giảm mạnh 83,6% về lượng và giảm 75,9% về kim ngạch, đạt 0,03 triệu tấn, tương đương 1,25 triệu USD; còn lại các thị trường khác đều tăng so với cùng kỳ; trong đó, xuất khẩu tăng mạnh ở các thị trường như: Australia tăng mạnh gấp 23,8 lần về lượng và tăng gấp 8,7 lần về kim ngạch, đạt 81.975 tấn, tương đương 3,59 triệu USD; Malaysia tăng 25,1% về lượng và tăng 56,9% về kim ngạch, đạt 258.546 tấn, tương đương 10,37 triệu USD; Lào tăng 29,2% về lượng và tăng 43,8% về kim ngạch, đạt 42.020 tấn, tương đương 3,03 triệu USD.
Theo số liệu của Vụ Vật liệu xây dựng (Bộ Xây dựng) ước sản phẩm tiêu thụ sản phẩm xi măng trong tháng 4/2019 đạt khoảng 9,18 triệu tấn, vẫn giữ được sự ổn định và tương đương so với cùng kỳ năm 2018; trong đó, ước tiêu thụ sản phẩm xi măng tại thị trường trong nước tháng 4/2019 khoảng 6,48 triệu tấn, tăng 0,43 triệu tấn so với tháng liền kề trước đó và cũng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm 2018. Riêng Tổng công ty Công nghiệp xi măng Việt Nam (Vicem) tiêu thụ tháng 4/2019 ước đạt khoảng 2,54 triệu tấn.
Lũy kế trong 4 tháng đầu năm 2019, sản lượng sản phẩm xi măng được tiêu thụ tại thị trường trong nước ước đạt khoảng 21,65 triệu tấn so với kế hoạch tiêu thụ sẩn phẩm tại thị trường trong nước của cả năm từ 66-67 triệu tấn.
Tại thị trường xuất khẩu, sản lượng xuất khẩu sản phẩm xi măng tháng 4/2019 ước đạt khoảng 2,7 triệu tấn. Con số này giảm 0,7 triệu tấn so với tháng liền kề trước đó và giảm 2% so với cùng kỳ năm 2018.
Đáng chú ý, mặc dù sản lượng xuất khẩu sản phẩm xi măng trong tháng 4 đều giảm nhẹ so với tháng trước đó và so với cùng kỳ năm 2018 nhưng nếu tính chung cả 4 tháng đầu năm 2019 con số này ước đạt khoảng 13,8 triệu tấn, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2018.
Lũy kế tiêu thụ 4 tháng đầu năm 2019 cả ở thị trường trong nước và xuất khẩu đã tiêu thụ khoảng 35,45 triệu tấn sản phẩm xi măng, tăng 8% so với cùng kỳ. Trong đó, Vicem tiêu thụ 4 tháng đầu năm khoảng 8,42 triệu tấn. Về giá cả, giá bán xi măng tháng 4/2019 không thay đổi nhiều so với cùng kỳ năm 2018, tuy giá điện đã tăng so với tháng 3/2019.
Xuất khẩu xi măng, clinker quý 1 năm 2019
| Thị trường | Quý 1/2019 | +/- so với cùng kỳ (%)* | ||
| Lượng (tấn) | Trị giá (USD) | Lượng | Trị giá | |
| Tổng cộng | 8.557.571 | 364.567.700 | 0,64 | 22,8 |
| Trung Quốc đại lục | 2.887.676 | 111.785.209 | 116,5 | 163,52 |
| Philippines | 2.027.051 | 102.073.135 | 24,42 | 44,35 |
| Bangladesh | 1.414.756 | 55.051.561 | -56,93 | -46,61 |
| Đài Loan (TQ) | 429.228 | 17.309.442 | -9,25 | 19,46 |
| Malaysia | 258.546 | 10.367.619 | 25,06 | 56,77 |
| Peru | 219.864 | 10.130.438 | 8,6 | 5,24 |
| Campuchia | 98.767 | 5.109.909 | 31,53 | 31,8 |
| Australia | 81.975 | 3.593.980 | 2.276,78 | 766,7 |
| Lào | 42.020 | 3.031.810 | 29,2 | 43,76 |
| Chile | 26.633 | 1.246.420 | -83,58 | -75,86 |
(Tính toán từ số liệu của TCHQ)
Theo Vinanet.vn
1Theo số liệu thống kê, nếu như tháng 6/2018 kim ngạch nhập khẩu sữa và sản phẩm của Việt Nam sụt giảm, thì sang tháng 7/2018 đã tăng trở lại, tăng 13,9% đạt 76,3 triệu USD.
2Nếu như 7 tháng đầu năm 2018 Việt Nam thu về 1,98 tỷ USD từ xuất khẩu hạt điều, nhưng ngược lại cũng phải nhập tới 1,52 tỷ mặt hàng này, chiếm 1,15% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước.
3Tuy không phải là thị trường truyền thống xuất khẩu sản phẩm gốm sứ của Việt Nam, nhưng 7 tháng đầu năm nay xuất khẩu sang Inonesia tăng đột biến, gấp 2,8 lần kim ngạch so với cùng kỳ.
4Mặc dù là thị trường chỉ đạt kim ngạch 9,8 triệu USD trong 7 tháng đầu năm nay, nhưng xuất khẩu thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh sang thị trường Philippines tăng mạnh 88% so với cùng kỳ năm 2017.
5Lần đầu tiên ngành gỗ đạt kim ngạch xuất khẩu 4,85 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2018. Mặc dù cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung diễn ra, nhưng hiện vẫn chưa ảnh hưởng tới ngành gỗ Việt Nam.
6Nhìn chung, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ đa số các thị trường trong 7 tháng đầu năm nay đều tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó nhập từ Ấn Độ tăng mạnh nhất.
7Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 7 tháng đầu năm 2018, cả nước nhập khẩu 11,98 triệu tấn than đá, trị giá 1,39 tỷ USD, tăng mạnh trên 51% về lượng và tăng 73% về kim ngạch so với 7 tháng đầu năm 2017.
8ắt thép nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất có xuất xứ từ Trung Quốc, chiếm 48% trong tổng lượng và tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của cả nước, đạt 3,88 triệu tấn, trị giá 2,77 tỷ USD.
9Thủy sản nhập khẩu vào Việt Nam ngày càng tăng, theo số liệu của Tổng cục Hải quan, trong 7 tháng đầu năm 2018 kim ngạch nhập khẩu thủy sản đã tăng 30,8% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 1,01 tỷ USD.
107 tháng đầu năm, cả nước xuất khẩu 3,93 triệu tấn gạo, tương đương 1,99 tỷ USD, tăng 13,7% về lượng và tăng 30,5% về kim ngạch so với cùng kỳ.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự