Trong 5 tháng đầu năm 2016, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất của nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện.

Theo Tổng cục Hải quan, Thái Lan là đối tác thương mại lớn nhất và cũng là bạn hàng đầu tiên trong khu vực ASEAN đạt kim ngạch song phương 10 tỷ USD với nước ta, tính hết tháng 8/2018.
Số liệu thống kê sơ bộ từ Tổng cục này cho thấy, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Thái Lan trong tháng 3/2019 đạt 492 triệu USD, tăng 76,4% so với tháng trước đó, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu trong quý 1/2019 lên 1,39 tỷ USD, tăng 5,9% so với cùng kỳ năm ngoái.
Trong rổ hàng hóa xuất sang thị trường Thái Lan tháng 3/2019, nhóm hàng quặng và khoáng sản khác có mức tăng đột biến cả về lượng (+1.775%) đạt 300 tấn và trị giá (+400,6%) đạt 234.000 USD so với tháng 2/2019. Tuy vậy, tính cả quý 1/2019, mặt hàng này lại giảm (-99,4%) về lượng và (-94,6%) về giá so với cùng quý năm 2018.
Trong tháng 3/2019, Thái Lan đã tăng mạnh nhập khẩu nhiều nhóm hàng của Việt Nam so với tháng 2/2019: Cà phê (+507,1%) đạt 1,7 tấn; hạt điều (+75,5%) đạt 779 tấn; hạt tiêu (+44,4%) đạt 520 tấn…đưa kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng này tăng mạnh lần lượt là (+246,1%) đạt 3,4 triệu USD; (+73,3%) đạt 5,8 triệu USD; (+48,2%) đạt 1,7 triệu USD. Tuy nhiên trong ba nhóm mặt hàng này, tính cả quý 1/2019, chỉ có mặt hàng cà phê là tăng cả lượng và trị giá so với cùng quý năm 2018, còn hạt điều thì tăng về lượng nhưng giảm về trị giá, hạt tiêu giảm cả lượng và trị giá so với cùng quý năm ngoái.
Điện thoại các loại và linh kiện là nhóm hàng chiếm thị phần cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang Thái Lan quý 1/2019 với 27% đạt 375,4 triệu USD, tăng 3,4% so với quý 1/2018. Tiếp đến là dầu thô có trị giá 160,7 triệu USD chiếm 11,6% tỷ trọng, tăng 62,2% so với cùng quý năm 2018.
Chiếm tỷ trọng nhỏ 1,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu quý 1/2019, chất dẻo nguyên liệu vẫn tăng khá về lượng (+76,5%) đạt 9.745 tấn và trị giá (+57,9%) đạt 14,9 triệu USD so với quý 1/2018.
Trong quý 1/2019, trị giá nhiều mặt hàng xuất khẩu sang Thái Lan bị sụt giảm như: hàng rau quả (-31,7%) đạt 12,3 triệu USD; thức ăn gia súc và nguyên liệu (-39,8%) đạt 6,8 triệu USD; thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh (-35,4%) đạt 1,3 triệu USD; sản phẩm từ sắt thép (-48,1%) đạt 40,1 triệu USD…
Hàng hóa xuất khẩu sang thị trường Thái Lan quý I năm 2019
| Mặt hàng | 3T/2019 | +/- so với cùng kỳ 2018 (%)* | ||
| Lượng (tấn) | Trị giá (USD) | Lượng | Trị giá | |
| Tổng |
| 1.389.067.400 |
| 5,88 |
| Hàng thủy sản |
| 70.803.411 |
| 11,50 |
| Hàng rau quả |
| 12.358.719 |
| -31,75 |
| Hạt điều | 2.039 | 15.303.628 | 28,24 | -0,32 |
| Cà phê | 2.540 | 6.155.734 | 34,68 | 5,35 |
| Hạt tiêu | 1.498 | 4.857.686 | -1,45 | -29,90 |
| Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc |
| 3.818.220 |
| -13,60 |
| Thức ăn gia súc và nguyên liệu |
| 6.835.043 |
| -39,77 |
| Quặng và khoáng sản khác | 328 | 312.340 | -99,37 | -94,58 |
| Dầu thô | 317.428 | 160.660.355 | 71,49 | 62,17 |
| Xăng dầu các loại | 27.541 | 14.326.170 | 7,86 | 8,19 |
| Hóa chất |
| 4.881.919 |
| 66,01 |
| Sản phẩm hóa chất |
| 19.882.265 |
| 4,89 |
| Phân bón các loại | 4.695 | 1.577.487 | 35,97 | 56,51 |
| Chất dẻo nguyên liệu | 9.745 | 14.951.214 | 76,51 | 57,93 |
| Sản phẩm từ chất dẻo |
| 17.543.034 |
| 0,15 |
| Sản phẩm từ cao su |
| 3.367.054 |
| -0,22 |
| Túi xách, ví,vali, mũ, ô, dù |
| 2.691.403 |
| -13,58 |
| Gỗ và sản phẩm gỗ |
| 8.330.140 |
| 13,36 |
| Giấy và các sản phẩm từ giấy |
| 13.257.185 |
| 62,79 |
| Xơ, sợi dệt các loại | 12.188 | 31.939.323 | 8,24 | 14,50 |
| Hàng dệt, may |
| 47.330.601 |
| 55,41 |
| Vải mành, vải kỹ thuật khác |
| 8.496.777 |
| 3,74 |
| Giày dép các loại |
| 15.758.156 |
| 31,20 |
| Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày |
| 10.809.767 |
| -0,17 |
| Sản phẩm gốm, sứ |
| 7.668.135 |
| 9,99 |
| Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh |
| 1.349.229 |
| -35,38 |
| Đá quý, kim loại quý và sản phẩm |
| 369.675 |
| -33,06 |
| Sắt thép các loại | 107.595 | 60.198.341 | 41,96 | 14,75 |
| Sản phẩm từ sắt thép |
| 40.114.434 |
| -48,06 |
| Kim loại thường khác và sản phẩm |
| 12.982.007 |
| -15,89 |
| Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện |
| 104.848.170 |
| -1,89 |
| Điện thoại các loại và linh kiện |
| 375.418.019 |
| 3,43 |
| Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác |
| 95.535.265 |
| 3,49 |
| Dây điện và dây cáp điện |
| 13.476.009 |
| 7,93 |
| Phương tiện vận tải và phụ tùng |
| 89.815.479 |
| -0,01 |
| Hàng hóa khác |
| 91.045.010 |
|
|
(*Tính toán số liệu từ TCHQ)
Theo Vinanet.vn
1Trong 5 tháng đầu năm 2016, Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn nhất của nhóm hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện.
2Xu hướng này có thể tiếp tục được đẩy mạnh sau khi thỏa thuận tự do thương mại giữa Việt Nam và EU có hiệu lực.
3XK gạo dù được nhận định sẽ khả quan hơn trong những tháng tới, nhưng Bộ Công Thương vẫn tỏ ra lo lắng với mặt hàng này khi đưa ra hàng loạt giải pháp để đẩy mạnh XK. Tuy nhiên, những giải pháp đưa ra chưa cụ thể cho thấy, XK gạo vẫn sẽ phải "dò dẫm" tìm đường đi.
4Chính phủ Việt Nam đã giao Bộ Công Thương chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và các bộ ngành liên quan hoàn thiện Tờ trình phê chuẩn TPP trình Thủ tướng thay mặt Chính phủ ký trình Chủ tịch nước xem xét, quyết định trình Quốc hội phê chuẩn tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa XIV (dự kiến bắt đầu từ 20-7).
Theo số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch nhập khẩu của 10 nhóm hàng nhập khẩu lớn nhất đạt 42,11 tỷ USD, chiếm 64% tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước từ đầu năm đến ngày 31/5 là 65,806 tỷ USD.
6Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong tháng 5 nền kinh tế chỉ nhập siêu gần 180 triệu USD, thấp hơn nhiều co số nhập siêu ước tính của Tổng cục Thống kê là 400 triệu USD. Nhờ đó, lũy kế 5 tháng nền kinh tế xuất siêu gần 1,64 tỷ USD.
7Có nhiều lý do khiến Bộ Công Thương đã xin NK 200.000 tấn đường và khẩn trương thực hiện đấu giá 85.000 tấn đường NK theo hạn ngạch thuế quan.
8UBND tỉnh Quảng Ninh vừa công bố danh sách 49 doanh nghiệp được thực hiện thí điểm hoạt động tạm nhập hàng hóa theo phương thức tạm nhập tái xuất qua cửa khẩu Ka Long thuộc Khu kinh tế cửa khẩu Móng Cái đến hết ngày 31/12/2016.
9Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, 4 tháng đầu năm 2016 cả nước xuất khẩu được gần 68.556 tấn hạt tiêu, đạt kim ngạch gần 556 triệu USD, tăng 25% về lượng và tăng 10,2% về kim ngạch so với cùng kỳ 2015. Giá tiêu đen xuất khẩu bình quân 4 tháng đầu năm đạt 7.680 USD/tấn, giảm 1.100 USD/tấn so với cùng kỳ năm trước; tiêu trắng 11.500 USD/tấn, giảm 1.084 USD/tấn.
10Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu thủy sản của cả nước trong tháng 4/2016 đạt trên 559,68 triệu USD (tăng 5,5% so với tháng trước đó), đưa tổng giá XK thủy sản 4 tháng đầu năm đạt hơn 1,96 tỷ USD (tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2015). Đây là tín hiệu lạc quan để có thể hy vọng xuất khẩu cả năm 2016 tăng trưởng tốt
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự