Là đối tác thương mại quan trọng hàng đầu và lớn thứ hai tại châu Âu, Việt Nam luôn coi trọng và tăng cường quan hệ hợp tác với Hà Lan.

Tình hình xuất khẩu cao su trong tháng 9/2018 sụt giảm bởi tác động từ giá cao su trên thị trường thế giới biến động không đồng nhất. Tại thị trường nội địa, giá mủ cao su giảm do mưa kéo dài và ảnh hưởng nặng của bệnh rụng lá...

Theo Bộ NN & PTNT, giá mủ cao su trong tháng 9/2018 sụt giảm. Cụ thể, tại Bình Phước, giá thu mua mủ cao su giảm từ mức 255 đồng/độ xuống 240 đồng/độ. Tại Đồng Nai, giá mủ tiếp tục giảm 500 đ/kg, từ 12.500 đ/kg xuống còn 12.000 đ/kg.
Nguyên nhân giảm do mưa tập trung kéo dài, làm gián đoạn việc khai thác mủ tại nhiều nơi, nhất là khu vực Tây Nguyên, Lào và một số nơi ở miền Đông Nam Bộ. Riêng khu vực Tây Nguyên bị ảnh hưởng nặng của bệnh rụng lá mùa mưa. Sức tiêu thụ rất chậm, giá cao su giống thời điểm này khá thấp, chỉ bằng một nửa so với cùng kỳ năm ngoái.
Tính chung trong 9 tháng, giá mủ cao tại Đồng Nai tăng khoảng 200 đ/kg (mức giá cao nhất đạt được vào tháng 5 là 13.200 đ/kg); giá mủ cao su tại Bình Phước giảm khoảng 400 đ/kg.
Dự báo, giá cao su nguyên liệu trong nước tiếp tục giảm trong thời gian tới với bối cảnh thị trường cao su toàn cầu dư cung, giao dịch ảm đạm.
Xuất khẩu
Cùng với thị trường nội địa, hoạt động xuất khẩu cũng ảm đạm, tháng 9/2018 giảm cả lượng và trị giá, giảm lần lượt 10,7% và 9,6% so với tháng 8/2018 tương ứng với 152,8 nghìn tấn; 197 triệu USD. Nguyên nhân, do giá cao su trên thị trường thế giới biến động không đồng nhất so với tháng 8/2018 đã tác động đến tình hình xuất khẩu cao su của Việt Nam.
Tính chung từ đầu năm đến hết tháng 9/2018, đã xuất khẩu trên 1 triệu tấn cao su, trị giá 1.4 tỷ USD, tăng 8,3% về lượng nhưng giảm 11,9% trị giá so với cùng kỳ. Giá xuất bình quân 1.381,07 USD/tấn, giảm 18,6%.
Trung Quốc thị trường chính xuất khẩu cao su của Việt Nam, chiếm 64,2% tổng lượng cao su xuất khẩu đạt 661,9 nghìn tấn, trị giá 899,7 triệu USD, tăng 8,62% về lượng nhưng giảm 12,53% trị giá so với cùng kỳ 2017. Giá xuất bình quân 1359,21 USD/tấn, giảm 19,47%.
Tính riêng tháng 9/2018 xuất khẩu sang Trung Quốc là 101,4 nghìn tấn, trị giá 129,7 triệu USD, giảm 4,49% về lượng và 1,74% trị giá so với tháng 8/2018; nếu so với tháng 9/2017 tăng 1,2% về lượng nhưng giảm 19,98% trị giá.
Sau Trung Quốc là thị trường EU, chiếm 6,6% thị phần đạt 68,5 nghìn tấn, trị giá 97,2 triệu USD, giảm 3,83% về lượng và 22,4% trị giá so với cùng kỳ. Kế đến là Ấn Độ, các nước Đông Nam Á, Malaysia, Đức và Hàn Quốc…
Một điểm đáng chú ý về tình hình xuất khẩu cao su trong 9 tháng đầu năm 2018, mặc dù lượng cao su xuất sang các thị trường đều tăng trưởng (chiếm tới 68%), nhưng ngược lại kim ngạch sụt giảm phần lớn (chiếm 67,8%).
Trong số thị trường tăng mạnh nhập khẩu cao su từ Việt Nam phải kể đến Ấn Độ tăng 77,28% (đạt 68,4 nghìn tấn); Mexico tăng 71,32% (đạt trên 2 nghìn tấn); Ukraine tăng 70,39% (đạt 305 tấn).
Thị trường với kim ngạch sụt giảm mạnh đó là: Séc giảm 83,03% (tương ứng 543,5 nghìn USD); Singapore giảm 68,41% (với 104,2 nghìn USD).
Thị trường xuất khẩu cao su 9 tháng năm 2018
| Thị trường | 9T/2018 | +/- so với cùng kỳ 2017 (%)* | ||
| Lượng (Tấn) | Trị giá (USD) | Lượng | Trị giá | |
| Trung Quốc | 661.985 | 899.778.081 | 8,62 | -12,53 |
| Ấn Độ | 68.411 | 99.459.737 | 77,28 | 53,15 |
| Malaysia | 46.990 | 61.151.426 | -21,75 | -34,64 |
| Đức | 28.991 | 44.105.362 | 7,26 | -11,37 |
| Hàn Quốc | 24.075 | 36.153.557 | -27,11 | -42,34 |
| Hoa Kỳ | 22.978 | 31.796.047 | -12,64 | -22,95 |
| Đài Loan | 22.461 | 34.066.738 | 19,43 | -1,58 |
| Thổ Nhĩ Kỳ | 19.406 | 27.296.967 | 6,91 | -12,59 |
| Indonesia | 12.220 | 18.075.666 | 19,15 | 4,3 |
| Italy | 10.862 | 14.973.561 | -2,84 | -22,41 |
| Tây Ban Nha | 9.483 | 13.280.182 | 9,54 | -13,89 |
| Brazil | 8.709 | 10.733.041 | 11,27 | -12,2 |
| Nhật Bản | 8.668 | 13.962.072 | 3,12 | -17,99 |
| Hà Lan | 7.791 | 9.473.741 | -26,55 | -46,19 |
| Nga | 6.397 | 8.921.599 | 40,41 | 10,78 |
| Canada | 4.624 | 6.822.796 | 64,26 | 31,94 |
| Bỉ | 4.165 | 4.603.147 | -36,31 | -50,52 |
| Pakistan | 3.791 | 5.348.840 | 34,19 | 15,19 |
| Pháp | 2.464 | 3.749.530 | 3,31 | -21,57 |
| Mexico | 2.073 | 2.776.795 | 71,32 | 26,21 |
| Anh | 1.791 | 2.511.140 | 57,66 | 14,55 |
| Thụy Điển | 1.532 | 2.199.472 | 51,68 | 29,21 |
| Hồng Kông (TQ) | 1.532 | 2.244.976 | 14,67 | -11,26 |
| Achentina | 1.484 | 2.211.667 | -1,72 | -21,18 |
| Phần Lan | 1.149 | 1.836.678 | 16,3 | -11,75 |
| Séc | 343 | 543.514 | -80,67 | -83,03 |
| Ukraine | 305 | 503.710 | 70,39 | 51,62 |
| Singapore | 71 | 104.282 | -67,43 | -68,41 |
(*Vinanet tính toán số liệu từ TCHQ)
Theo Vinanet.vn
1Là đối tác thương mại quan trọng hàng đầu và lớn thứ hai tại châu Âu, Việt Nam luôn coi trọng và tăng cường quan hệ hợp tác với Hà Lan.
2Xuất khẩu hạt điều của Việt Nam đã tăng mạnh trở lại trong tháng 3/2019 sau khi hai tháng giảm liên tiếp, tuy nhiên nếu tính chung quý 1/2019 thì kim ngạch vẫn sụt giảm so với cùng. Trong số thị trường nhập khẩu hạt điều của Việt Nam, thì Bỉ có tốc độ tăng vượt trội.
3Việt Nam đứng thứ 9 trong số các nước Đông Nam Á sẽ có mức tăng xuất khẩu sang Anh lớn nhất khi Brexit “không thỏa thuận”.
4Theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong quý 1/2019 cả nước xuất khẩu 1,77 triệu tấn sắt thép, thu về 1,13 tỷ USD, tăng 23,5% về khối lượng và tăng 8,8% về kim ngạch so với quý 1/2018.
5Năm 2018, tổng kim ngạch thương mại với Thổ Nhĩ Kỳ đạt xấp xỉ 1,7 tỷ USD trong đó kim ngạch xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ đạt 1,41 tỷ USD (giảm 25,8% so với năm 2017) và kim ngạch nhập khẩu đạt 285,64 triệu USD (tăng 27,6% so với năm 2017), số liệu từ TCHQ Việt Nam.
6NaUy, Ấn Độ; Trung Quốc, Indoneisa và Nhật Bản là các thị trường chủ yếu cung cấp thủy sản nhập khẩu cho Việt Nam.
7Theo số liệu thống kê sơ bộ từ Tổng cục Hải quan, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Singapore trong quý 1/2019 đạt gần 817 triệu USD, tăng 7,3% so với cùng quý năm 2018.
8Xuất khẩu gạo trong quý 1/2019 mặc dù sụt giảm cả về lượng và kim ngạch so với cùng kỳ năm trước, nhưng xuất khẩu sang các thị trường chủ đạo như Philippines, Iraq và Bờ biển Ngà vẫn tăng trưởng tốt.
9Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu nhóm hàng thủy sản tháng 3/2019 tăng trở lại sau 4 tháng sụt giảm liên tiếp kể từ tháng 11/2018, đạt 683,6 triệu USD, tăng rất mạnh 83,4% so với tháng 2/2019 nhưng giảm 2,7% so với cùng tháng năm 2018.
10Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, nhập khẩu sắt thép sau khi sụt giảm mạnh trong tháng 2/2019 thì sang tháng 3 tăng rất mạnh 56,4% về lượng và tăng 62% về kim ngạch so với tháng 2, đạt 1,35 triệu tấn, tương đương 896,91 triệu USD; so với cùng tháng năm trước cũng tăng 29,3% về lượng và tăng 20,4% về kim ngạch.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự