Làng Vác - Làng nghề truyền thống chế tác lồng chim

Sau khi dệt những mảnh vải bằng khung cửi gỗ, người dân thu hái cây chàm về ngâm vào chum nước cả tháng cho đến khi nhàu nát, sau đó chắt lấy nước rồi trộn một ít vôi, nhân hạt đào phai giã nát và ngâm vải vào đó.
Vải diềm bâu nhuộm nước lá chàm chuyên để may trang phục truyền thống của người Nùng ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Tuy nhiên, mỗi chi, nhánh của dân tộc Nùng lại có cách trang trí, thêm bớt họa tiết riêng biệt. Không chỉ có quần áo mà cả vỏ gối, túi xách, tay nải, khăn đội đầu, khăn trải bàn... của người Nùng Cháo, Nùng Ing, Nùng Phàn Sình đều làm bằng vải chàm.
Sau khi dệt những mảnh vải bằng khung cửi gỗ có kích thước bề ngang 40 cm, người dân thu hái lấy cây chàm về ngâm vào chum nước hàng tháng trời cho đến khi lá nhàu nát. Sau đó họ mới chắt lọc lấy nước rồi trộn một ít vôi, nhân hạt đào phai giã nát và khoắng đều tạo thành thứ nước hỗn hợp màu xanh lam đậm hay còn gọi là màu chàm.
Công đoạn nhuộm chàm cũng rất cầu kỳ. Mỗi ngày phải hai lần vớt vải từ chum nước nhuộm chàm ra phơi khô rồi lại ngâm vào chum. Liên tục lặp lại công đoạn đó trong vòng một tháng mới được tấm vải chàm ưng ý. Nếu làm hỏng một trong các công đoạn này coi như tấm vải không thành, phải bỏ đi làm lại.
Việc thêu thùa với con gái người Nùng trước kia rất được coi trọng, nhìn vào từng đường kim mũi chỉ có thể biết được đâu là cô gái khéo léo, đảm đang. Khi về nhà chồng họ sẽ mang theo chăn, gối tự làm và coi đó như “của hồi môn” cho hạnh phúc lứa đôi. Tất cả họa tiết thổ cẩm đều được thêu tay trên nền vải chàm truyền thống. Đó là sự cách điệu họa tiết hình hoa lá, mặt trời...
Vừa chăm chút từng đường kim mũi chỉ cho sản phẩm, bà Nông Thị Nghị ở xã Hòa Cư (Cao Lộc) vừa giải thích, nếu thêu sai một màu chỉ sẽ phải dỡ ra thêu lại rất mất công. Họa tiết thổ cẩm được phối hợp giữa nhiều màu chỉ, thêu riêng từng màu. Bà Nghị thường tranh thủ buổi trưa rảnh rỗi để thêu thùa. Nếu làm liên tục thì mất 3 ngày mới thêu xong áo gối truyền thống có 9 bông hoa.
Thông thường, phụ nữ người Nùng Phàn Sình khi thêu không mấy khi sử dụng đến khung thêu. “Người nào thêu càng đều, càng đẹp thì càng thể hiện được khả năng tư duy, bàn tay khéo léo trên nền chàm, nên từ trước đến nay tôi vẫn thêu trơn như thế này”, người đàn bà 62 tuổi cho biết.
Trên những chiếc áo chàm, phần khuy áo được làm thủ công, đây là công đoạn mất nhiều thời gian nhất. Phải tốn hơn 3 ngày mới khâu xong hàng khuy áo đều đặn, đẹp mắt. Đối với những chiếc vỏ gối dài 1,2 m và 1,8 m, tất cả họa tiết thổ cẩm được thêu trên nền vải chàm, họa tiết đối xứng.
Ông Chu Minh Lợi (62 tuổi, chồng bà Nghị) bảo từ ngày mở cửa hội nhập, hàng hóa các nước tràn vào, thanh niên nam nữ người dân tộc nhanh chóng tiếp cận, thay thế những bộ trang phục màu chàm bằng các loại quần áo vải hoa, vải bò. Ngay cả những người cao tuổi trước đó mặc quần áo chàm cả ngày, nay cũng cất trang phục truyền thống vào rương, hòm.
Vì thế ít người còn mặn mà với việc làm sản phẩm thêu thủ công trên vải chàm. Những chiếc túi vải, khăn, gối... không còn xuất hiện trong cuộc sống hiện đại mà thay vào đó là sản phẩm may sẵn. “Không còn ai mặc quần áo Nùng Phàn Sình xịn nữa đâu, họ mua vải kẻ may áo, vải phin bóng may quần. Cũng kiểu dáng truyền thống, nhưng chất liệu thay đổi rồi”, ông Lợi buồn bã nói.
Tiếc cho thổ cầm truyền thống đang dần mai một, ông Lợi là một trong số ít người ở huyện Cao Lộc còn duy trì công việc nhuộm chàm và thêu sản phẩm từ vải chàm. Ông tự hào bảo, dù mất công sức, nhưng sản phẩm làm ra đường chỉ rất chắc chắn, màu vải chàm không phai, hoa văn độc đáo đậm nét dân tộc, đường thêu điêu luyện và mềm mại.
Ông Hoàng Văn Lương, Chủ tịch xã Hòa Cư (Cao Lộc) cho biết, chính quyền đã đến tuyên truyền, vận động người dân tích cực giữ gìn trang phục truyền thống, nghề thêu thổ cẩm cổ truyền. Nhưng điều khó khăn nhất là lớp trẻ hiếm người còn yêu thích, dành thời gian cho việc thêu những chiếc túi, gối. Bảo tồn và duy trì nghề thêu thổ cẩm cũng đang là một trong những vấn đề cấp thiết trong quá trình xây dựng nông thôn mới của địa phương.
1Làng Vác - Làng nghề truyền thống chế tác lồng chim
2Giải mã hiện tượng kiệu quay, kiệu bay trong khi kiệu nặng như trái núi tại các lễ hội làng ở ngoại thành Hà Nội.
3Xưa kia, làng Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) được mệnh danh là “làng khoa bảng, đất danh hương”. Nay, Bát Tràng còn nổi tiếng hơn bởi các sản phẩm gốm nức tiếng xa gần, nhiều gia đình nhờ thế cũng trở thành tỷ phú…
4Từ xa xưa, tơ Hồng Đô xã Thiệu Đô, tỉnh Thanh Hóa đã nổi tiếng là loại tơ mềm, đẹp, bền, từng được nhiều người ưa chuộng. Tuy nhiên, nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt nhiễu nơi đây cũng lắm thăng trầm.
5Festival Nghề truyền thống Huế lần thứ VII với chủ đề "Tinh hoa Nghề Việt" sẽ được diễn ra từ ngày 28/4 đến ngày 2/5/2017 tại thành phố Huế.
6Hiện nay, giá xuất khẩu bánh tráng đang ở mức 50.000-60.000 đồng/kg, có loại từ 30.000-40.000 đồng tùy thương hiệu.
7Việc phát triển du lịch làng nghề, gắn kết sản phẩm thủ công mỹ nghệ với thị trường du lịch được coi là định hướng chung của Hà Nội, nhằm khai thác những thế mạnh của các làng nghề.
8Gốm làng Ngòi là dòng gốm rất đặc biệt, có triển vọng trở thành thương hiệu của Bắc Giang. Với điều kiện thuận lợi về cảnh quan, môi trường, nguồn nguyên liệu, Bắc Giang có thể phát triển gốm làng Ngòi theo hướng gắn với du lịch.
9Một làng nghề ở Đà Nẵng đã trở thành “làng tỉ phú” khi có nhiều cơ sở chế tác và nghệ nhân làm giàu từ nghề cha truyền con nối.
10Người dân và ngân hàng đều mong mỏi chính sách phát triển làng nghề có bước đột phá để các hộ liên kết lại, tạo ra sản phẩm thủ công truyền thống chất lượng cao.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự