Xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ 3 tháng đầu năm 2019 đạt gần 13,32 tỷ USD, tăng 28,8% so với cùng kỳ năm trước.

Tính từ đầu năm đến hết tháng 4/2018, lượng tiêu xuất khẩu của Việt Nam tăng 13,8% nhưng kim ngạch giảm 34% so với cùng kỳ do giá xuất bình quân giảm 42% xuống 3.536,4 USD/tấn.
Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong tháng 4/2018 đạt 26,8 nghìn tấn, trị giá 85,6 triệu USD, giảm 10,6% về lượng và 19,3% về trị giá so với tháng 3, tính chung 4 tháng đầu năm 2018, xuất khẩu hạt tiêu đạt 86,8 nghìn tấn, trị giá 307,1 triệu USD, tăng 13,8% về lượng nhưng giảm 34% về trị giá so với cùng kỳ do giá xuất bình quân giảm 42% so với cùng kỳ 2017 xuống còn 3536,4 USD/tấn.
Việt Nam xuất khẩu hạt tiêu chủ yếu sang thị trường Mỹ, chiếm 16,4% tổng lượng hạt tiêu xuất khẩu đạt 14,2 nghìn tấn, trị giá 56,5 triệu USD, tăng 9,43% về lượng nhưng giảm 35,56% trị giá, giá xuất bình quân giảm 41,11% xuống 3964,5 USD/tấn.
Đối với thị trường Ấn Độ, tuy đứng thứ hai về lượng xuất khẩu, nhưng so với cùng kỳ đây là thị trường có tốc độ tăng mạnh nhất, gấp gần 2 lần tuy chỉ đạt 9,1 nghìn tấn, trị giá 31,3 triệu USD, mặc dù giá xuất bình quân sang thị trường này giảm 42,66% xuống 3407,11 USD/tấn, nhưng kim ngạch vẫn tăng 36,37% so với cùng kỳ 2017.
Nhìn chung, 4 tháng đầu năm nay lượng tiêu xuất khẩu sang các thị trường đều tăng trưởng chiếm 65,3%. Ngoài thị trường Ấn Độ có lượng tiêu xuất khẩu tăng vượt trội, thì xuất sang Australia, Ukraine, Singapore, Ba Lan đều có mức tăng khá, tăng lần lượt 83,64%; 60,21% 62,05% và 52,55%.
Ngược lại, lượng tiêu xuất khẩu sang các thị trường suy giảm chỉ chiếm 34,6% trong đó xuất sang thị trường Bỉ giảm mạnh nhất, giảm 63,24% tương ứng với 93 tấn.
Về giá xuất khẩu, trong 4 tháng đầu năm 2018 xuất sang các thị trường Hà Lan, Australia có giá đắt nhất đều đạt trên 4.900 USD/tấn. Ngoài ra, giá xuất sang thị trường Thái Lan, Malasyia, Pháp, Italia có giá đạt trên 4.000 USD/tấn.
Theo Vinanet
1Xuất khẩu hàng hóa sang Mỹ 3 tháng đầu năm 2019 đạt gần 13,32 tỷ USD, tăng 28,8% so với cùng kỳ năm trước.
2Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong quý 1/2019 kim ngạch xuất khẩu túi xách, va li, ô dù ra thị trường nước ngoài đạt 841,23 triệu USD, tăng 10,4% so với quý 1/2018; trong đó riêng tháng 3/2019 đạt 299,8 triệu USD, tăng mạnh 82,5% so với tháng 2/2019 và tăng 9,7% so với tháng 3/2018.
Tuy là thị trường đứng thứ tư về lượng bông nhập khẩu trong quý 1/2019, nhưng tốc độ tăng trưởng từ Achentina tăng đột biến cả về lượng và trị giá so với quý 1/2018.
4Xuất khẩu sản phẩm nhựa quý 1/2019 đạt 807,33 triệu USD, tăng 19,6% so với cùng kỳ năm 2018.
5Quý 1/2019 xuất khẩu than đá của cả nước đạt 31.381 tấn, thu về 4,34 triệu USD, giảm mạnh 94,6% về lượng và giảm 94,2% về kim ngạch so với quý 1/2018.
6Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu hạt tiêu sau khi sụt giảm cả về lượng và kim ngạch trong tháng 2/2019, thì tháng 3/2019 tăng mạnh 110,5% về khối lượng và tăng 102,3% về kim ngạch so với tháng 2/2019, đạt 35.269 tấn, tương đương 89,45 triệu USD; so với tháng 3/2018 thì tăng 17,3% về lượng nhưng giảm 15,8% về kim ngạch.
7Trung Quốc – thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 4 tháng năm 2019, kim ngạch tăng so với cùng kỳ, trong đó nhóm hàng điện tử máy tính và linh kiện tăng gần 81%...
8Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, quý 1/2019 cả nước xuất khẩu gần 8,56 triệu tấn xi măng và clinker, thu về 364,57 triệu USD, tăng 0,6% về lượng và tăng 22,8% về kim ngạch so với quý 1/2018. Giá xuất khẩu tăng 22%, đạt trung bình 42,6 USD/tấn.
94 tháng có 16 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 81,2% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó một số mặt hàng có giá trị tăng so với cùng kỳ năm trước…
10Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu cà phê trong tháng 3/2019 tăng mạnh trở lại gần 40% cả về lượng và kim ngạch sau khi giảm 38% cả về lượng và kim ngạch trong tháng trước đó.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự