Có thương hiệu, gạo Thái Lan được xuất khẩu với giá gấp hơn 2 lần gạo Việt Nam. Trong khi đó, gạo "made in Việt Nam" giờ vẫn chưa có tên, chưa có giá.

Hội nhập càng sâu với thế giới, hàng Việt càng nguy cơ bị cạnh tranh nhiều, nhưng công cụ phòng vệ thương mại vẫn ít được doanh nghiệp dùng.
Sáng 14/10, tại Hà Nội, Trung tâm WTO và Hội nhập, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức hội thảo công bố kết quả điều tra nghiên cứu: Điều gì cản trở doanh nghiệp Việt Nam sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại (PVTM) để tự bảo vệ trước hàng hoá nước ngoài?
Hàng Việt bị kiện cả trăm vụ, nhưng mới sử dụng PVTM 4 lần
Theo Bà Đinh Thị Mỹ Loan, Chủ tịch Hội đồng tư vấn về PVTM, Trung tâm WTO và Hội nhập–VCCI, cách đây 10 năm, vụ kiện Hoa Kỳ về cá tra, cá basa, sau đó là tôm đông lạnh đã tốn nhiều giấy mực của báo chí. Thực tế cho thấy, các doanh nghiệp đã lo lắng và có một chút e ngại, nhưng đến nay cộng đồng doanh nghiệp, các Hiệp hội doanh nghiệp đã có kinh nghiệm đương đầu với vụ kiện và chống bán phá giá. Thậm chí, từ năm 2010 đến nay, Việt Nam không chỉ đương đầu mà còn khởi kiện Hoa Kỳ trong 2 vụ.
Theo đánh giá của bà Loan, Việt Nam đang trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng đi vào chiều sâu, nền kinh tế của Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn khi phải mở rộng cánh cửa cho hàng hóa nước ngoài vào Việt Nam, đặc biệt là thông qua việc cắt giảm, loại bỏ thuế quan từ sau năm 2015. Đó vừa là cơ hội vừa là rào cản với cộng đồng doanh nghiệp.
Trước thực tế này, theo bà Loan, các công cụ phòng vệ thương mại truyền thống cần phải đổi mới hơn, áp dụng được linh hoạt các giải pháp mới trong thực tế mới. Bởi nhìn lại những năm qua, bà Loan cho hay: “Dù chúng ta đã có những thành công nhất định nhưng việc các doanh nghiệp Việt Nam sử dụng các công cụ thương mại từ WTO để bảo vệ môi trường kinh doanh, cạnh tranh lành mạnh công bằng của hàng hóa nước ngoài hiện còn nhiều điểm cần khắc phục.
TS. Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập – VCCI, đại diện nhóm nghiên cứu báo cáo “Sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại trong bối cảnh Việt Nam thực thi các FTAs và AEC” cho biết, trong khi hàng hóa Việt Nam xuất khẩu đến nay đã là đối tượng của cả trăm vụ kiện PVTM ở nước ngoài thì Việt Nam tới nay mới chỉ sử dụng công cụ này 4 lần, với 3 vụ kiện tự vệ và 1 vụ kiện chống bán phá giá.
Cụ thể, tính tới tháng 10/2015, tổng số vụ điều tra PVTM đối với hàng hóa Việt Nam ở nước ngoài là 70, tổng số vụ dẫn tới áp dụng biện pháp PVTM là 36; tổng số vụ điều tra chống trợ cấp là 7, tổng số vụ dẫn tới áp dụng biện pháp PVTM là 4 vụ; tổng số vụ điều tra tự vệ là 17, và tổng số vụ dẫn tới áp dụng biện pháp PVTM là 6.
Số lượng các vụ điều tra PVTM đối với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam tính tới tháng 10/2015 là: 1 vụ điều tra chống bán phá giá, 1 vụ dẫn tới áp dụng biện pháp PVTM; tổng số vụ điều tra tự vệ là 3, và tổng số vụ dẫn tới áp dụng biện pháp PVTM là 1. Không có vụ việc nào liên quan tới chống trợ cấp.
Từ số liệu các vụ điều tra PVTM hàng nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam, bà Trang đánh giá: “3/4 vụ việc là điều tra áp dụng biện pháp tự vệ. Thực tế này dường như đi ngược lại thông lệ quốc tế, theo đó các biện pháp tự vệ là những biện pháp rất ít được sử dụng so với 2 biện pháp còn lại”.
Thực tế này theo lý giải của bà Trang, công cụ PVTM ít được sử dụng vì chúng được áp dụng không phải để chống lại hành vi cạnh tranh không lành mạnh mà chỉ đơn thuần là biện pháp bảo hộ tạm thời trước tình trạng tăng giá đột biến của hàng hóa nước ngoài nhập khẩu gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành sản xuất nội địa. Chính vì thế, trong khi nghĩa vụ của bên đi kiện còn nhẹ (không phải chứng minh sự tồn tại của hành vi cạnh tranh lành mạnh) thì trách nhiệm của Chính phủ lại càng lớn hơn (phải có sự đền bù tương ứng cho các nước nhập khẩu bị ảnh hưởng).
Trong bối cảnh Việt Nam nơi chưa sử dụng nhiều công cụ PVTM, bà Trang khẳng định, “nơi năng lực và kinh nghiệm của cả doanh nghiệp đi kiện lẫn cơ quan điều tra còn hạn chế, thì các biện pháp tự vệ là một công cụ có ưu thế hơn so với 2 công cụ còn lại”.
PVTM hiện vẫn là công cụ của nhà giàu
Một lý do quan trọng khác khiến công cụ PVTM chưa được doanh nghiệp “mặn mà” dùng, theo bà Trang, do nguyên đơn khởi kiện trong các vụ việc này đa số đang nắm giữ vị trí thống lĩnh thị trường đối với lại sản phẩm là đối tượng của vụ kiện.
Chẳng hạn, trong cả 3 vụ việc PVTM của Việt Nam, nguyên đơn chỉ bao gồm 1 doanh nghiệp (với 2 vụ tự vệ) hoặc 2 doanh nghiệp (với vụ chống bán phá giá) và sản lượng sản phẩm liên quan mà các nguyên đơn sản xuất chiếm tới trên dưới 70-80% tổng sản lượng sản xuất nội địa.
Điều này được bà Trang giải thích là các doanh nghiệp có thị phần lớn là các doanh nghiệp mạnh, được suy đoán có đủ năng lực để thực hiện việc đi kiện theo các thủ tục phức tạp cũng như có đủ nguồn lực để theo kiện. “Điều này cũng đồng nghĩa với việc công cụ PVTM hiện vẫn là công cụ của nhà giàu, chưa phải là công cụ để bảo vệ quyền lợi và lợi ích của các doanh nghiệp nhỏ”. Nhưng doanh nghiệp nhỏ lại phải chịu tác động mạnh nhất từ các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của hàng hóa nước ngoài tại Việt Nam, nếu có.
Hơn nữa, xét về lý thuyết, theo bà Trang, hàng hóa nhập khẩu càng nhiều thì nguy cơ cạnh trạnh không lành mạnh càng lớn hơn. Điều này cũng không đồng nghĩa với việc hàng hóa nhập khẩu ít hơn thì nguy cơ cạnh tranh không lành mạnh ít hơn hay số vụ kiện sẽ lớn hơn. Các sản phẩm bị kiện trong cả 3 vụ kiện PVTM của Việt Nam vừa qua đều không phải sản phẩm trong tốp đầu về hội nhập vào Việt Nam.
Trước thực tế này, bà Trang cảnh báo: “Cơ quan Nhà nước có trách nhiệm liên quan cần lưu ý để tránh nguy cơ các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường lạm dụng công cụ này để bảo vệ vị trí thống lĩnh của mình, gây thiệt hại tới cạnh tranh nói chung”.
1Có thương hiệu, gạo Thái Lan được xuất khẩu với giá gấp hơn 2 lần gạo Việt Nam. Trong khi đó, gạo "made in Việt Nam" giờ vẫn chưa có tên, chưa có giá.
2Các số liệu mới nhất được Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và một số dự báo kinh tế khác cho thấy thế giới đang ở trong năm thứ ba liên tiếp ghi nhận hoạt động thương mại toàn cầu tăng trưởng chậm hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế.
3Vì sao tổng đàn gia súc, gia cầm của Việt Nam đứng thứ 2 châu Á và nằm trong top 10 của thế giới mà lại không xuất khẩu được thịt?
4Trong năm 2015, Việt Nam sẽ ký kết 4 Hiệp định thương mại tự do (FTA), mở ra nhiều cơ hội về xuất nhập khẩu hàng hóa, giao lưu thương mại giữa Việt Nam và các nước. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là doanh nghiệp Việt sẽ có cơ hội và thách thức gì, Nhà nước hỗ trợ gì giúp doanh nghiệp trong nước mở rộng thị trường, hội nhập quốc tế, tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu?
5Việt Nam là một trong những nước có số lượng, chủng loại trái cây phong phú, mùa nào thức nấy. Tuy nhiên, dù kim ngạch xuất khẩu rau quả năm 2014 có hơn “tỷ đô” nhưng hàng trái cây Việt đang “mắc” ngay trên chính quê hương mình.
6Nhiều doanh nghiệp Việt, Nga đang tất bật tìm kiếm, chuẩn bị cho những đơn hàng lớn vào thị trường này do thuế suất nhiều mặt hàng Việt vào thị trường Nga, Belarus... chuẩn bị về 0%.
7Những thuận lợi, khó khăn với Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế sẽ được đề cập tại cuộc họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội vào cuối tuần này. Theo TS. Nguyễn Ngọc Hòa, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, trong điều kiện dỡ bỏ hàng rào thuế quan khi hội nhập, việc đưa hàng sản xuất trong nước vào hệ thống siêu thị nước ngoài là không hề đơn giản.
8Trong nỗ lực nhằm thiết lập chuẩn định giá riêng cho dầu thô nhập khẩu, Trung Quốc sẽ cho phép cả giới đầu tư trong và ngoài nước giao dịch các hợp đồng dầu kỳ hạn bằng nhân dân tệ từ năm nay.
9Tăng trưởng toàn ngành nông nghiệp bắt đầu đuối dần từ năm 2011, tụt hậu hơn so với các lĩnh vực khác và tụt hậu mạnh nhất trong năm 2015. Tuy vậy, nhiều ngành hàng tiếp tục tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước gồm sắn, rau quả, tiêu, điều, gỗ và sản phẩm gỗ…
10Hiệp định TPP mà Mỹ và Việt Nam là thành viên đang gây ra nhiều nỗi lo cho người nuôi tôm và chế biến hải sản của cả hai nước, theo một báo cáo đặc biệt của hãng tin Reuters.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự