Việt Nam nhập siêu khá lớn từ Trung Quốc và Hàn Quốc đồng thời xuất siêu lớn qua Mỹ và EU trong năm tháng đầu năm 2016. Tổng quan, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê vừa công bố, cả nước vẫn xuất siêu 1,36 tỉ đô la Mỹ trong 5 tháng.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong 4 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam tăng 10,9% so với cùng kỳ năm 2018, đạt 9,46 tỷ USD, chiếm 14,9% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa các loại của cả nước.
Riêng tháng 4/2019 giảm 7,5% so với tháng liền kề trước đó, nhưng tăng 10,7% so với tháng 4/2018, đạt 2,34 tỷ USD.
Hàng dệt may của Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Mỹ chiếm 46,7% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 4,42 tỷ USD, tăng 8,8% so với cùng kỳ.
Nhật Bản đứng thứ 2 về kim ngạch, đạt 1,16 tỷ USD, chiếm 12,3% trong tổng kim ngạch, tăng 4,5% so với cùng kỳ. Tiếp đến thị trường EU đạt 1,14 tỷ USD, tăng 5%, chiếm 12%.
Hàng dệt may xuất sang thị trường Hàn Quốc đạt 982,62 triệu USD, tăng 7,2%, chiếm 10,4%.
Thị trường Đông Nam Á chiếm 4,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may củaViệt Nam, đạt 435,35 triệu USD, tăng 45% so với 4 tháng đầu năm 2018.
Hàng dệt may xuất khẩu sang thị trường Canada mới chỉ chiếm 2% trong tổng kim ngạch, đạt 202,93 triệu USD, nhưng tăng trưởng tốt 22,3% so với cùng kỳ, từ ngày 8/3/2019 Thông tư hướng dẫn về CPTPP của Bộ Công thương có hiệu lực, đã có trên 400 bộ chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) được cấp cho hàng xuất khẩu sang thị trường Canada, đáng lưu ý là trong đó phần lớn là hàng dệt may bởi đây là mặt hàng được giảm thuế ngay sau khi CPTPP có hiệu lực.
Hiện nay mặt hàng dệt may đang tận dụng rất tốt quy tắc xuất xứ khi xuất khẩu sang Canada để hưởng ưu đãi thuế từ CPTPP. Theo cam kết trong CPTPP, nếu đáp ứng được các yêu cầu về xuất xứ, mặt hàng dệt may cũng được giảm thuế từ 17-18% xuống còn 0%.
Theo nhận định của Hiệp hội Dệt may Việt Nam, dệt may là ngành hàng có nhiều cơ hội lớn từ CPTPP, với nhiều thị trường có tiềm năng lớn như Australia, Canada....
Thời gian vừa qua, để đáp ứng yêu cầu từ sợi trở đi (từ công đoạn kéo sợi, dệt, nhuộm vải) đều có xuất xứ trong khu vực CPTPP các doanh nghiệp đã có nhiều giải pháp tìm kiếm nguồn nguyên phụ liệu ở trong nước và trong khối CPTPP để hưởng ưu đãi thuế quan, thông qua đó gia tăng xuất khẩu.
Nhìn chung trong 4 tháng đầu năm nay xuất khẩu hàng dệt may sang đa số các thị trường tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm trước; trong đó đặc biệt chú ý là thị trường Ghana mặc dù chỉ đạt 3,69 triệu USD nhưng so với cùng kỳ tăng mạnh gấp 48,4 lần; Ngoài ra xuất khẩu còn tăng mạnh ở các thị trường như: Nigeria tăng 405,2%, đạt 12,8 triệu USD; Angola tăng 184,6%, đạt 11,5 triệu USD; Nga tăng 84,4%, đạt 65,06 triệu USD; Lào tăng 73,8%, đạt 2,58 triệu USD.
Xuất khẩu hàng dệt may 4 tháng đầu năm 2019
ĐVT: USD
| Thị trường | T4/2019 | +/- so tháng T3/2019 (%) | 4T/2019 | +/- so cùng kỳ năm trước (%) |
| Tổng kim ngạch XK | 2.343.196.511 | -7,52 | 9.461.322.193 | 10,89 |
| Mỹ | 1.099.630.447 | -7,36 | 4.421.219.075 | 8,76 |
| Nhật Bản | 265.410.812 | -17,17 | 1.162.481.130 | 4,53 |
| Hàn Quốc | 223.418.611 | -22,18 | 982.617.965 | 7,18 |
| Trung Quốc đại lục | 102.125.291 | -6,37 | 413.717.683 | 18,87 |
| Anh | 49.830.443 | -14,74 | 221.255.868 | 2,72 |
| Đức | 53.538.993 | -2,43 | 209.302.878 | -3,78 |
| Canada | 57.139.948 | 11,92 | 202.933.049 | 22,26 |
| Hà Lan | 50.678.372 | 20,97 | 179.603.807 | 12,14 |
| Campuchia | 41.343.827 | -19,7 | 178.796.915 | 59,36 |
| Pháp | 37.326.424 | -2,8 | 154.283.910 | 3,78 |
| Tây Ban Nha | 25.974.647 | -8,25 | 117.424.141 | 1,27 |
| Bỉ | 27.703.143 | 31,11 | 89.943.813 | 31,73 |
| Indonesia | 21.529.373 | -8,89 | 87.127.706 | 64,72 |
| Italia | 32.939.136 | 86,05 | 84.987.737 | 26,47 |
| Hồng Kông (TQ) | 22.829.939 | 3,45 | 82.813.154 | 32,55 |
| Đài Loan (TQ) | 16.954.198 | -22,59 | 79.924.455 | 27,84 |
| Australia | 17.928.734 | -18,68 | 78.539.889 | 24,31 |
| Nga | 25.251.065 | 61,36 | 65.056.694 | 84,38 |
| Thái Lan | 15.229.336 | -10,19 | 62.553.800 | 53,2 |
| Chile | 16.989.825 | 95,76 | 48.417.741 | 54,97 |
| Malaysia | 9.304.251 | 0,04 | 33.965.777 | 14,55 |
| Mexico | 10.067.093 | 29,52 | 32.693.282 | 25,87 |
| Philippines | 9.463.395 | 20,78 | 31.465.838 | 24,45 |
| Singapore | 8.487.328 | 15,29 | 28.886.292 | -6,3 |
| Bangladesh | 5.658.206 | -30,32 | 27.568.352 | 66,92 |
| Ấn Độ | 7.360.571 | 26,5 | 23.976.172 | 62,97 |
| Thụy Điển | 5.734.245 | 0,74 | 22.971.906 | -4,23 |
| U.A.E | 5.914.836 | -6 | 21.665.201 | -25,04 |
| Đan Mạch | 5.210.726 | 1,01 | 21.374.136 | -19,57 |
| Brazil | 4.391.391 | -6,02 | 18.417.956 | 2,52 |
| Ba Lan | 3.928.041 | -26,35 | 16.448.028 | -8,94 |
| Saudi Arabia | 4.292.963 | -9,56 | 15.381.025 | -0,94 |
| Nigeria | 1.482.699 | 32,72 | 12.800.327 | 405,17 |
| Angola | 3.622.061 | 127,86 | 11.497.211 | 184,63 |
| Myanmar | 2.719.837 | -13,09 | 9.970.266 | 44,26 |
| Nam Phi | 2.837.020 | 35,29 | 9.914.800 | 2,73 |
| Áo | 3.900.345 | 52,26 | 9.577.627 | -14,7 |
| New Zealand | 2.569.591 | -2,51 | 9.317.539 | 47,95 |
| Sri Lanka | 3.675.816 | 116,33 | 8.600.278 |
|
| Thổ Nhĩ Kỳ | 2.492.247 | -1,87 | 8.202.334 | -42,2 |
| Cộng hòa Tanzania | 156.991 | -91,1 | 6.431.497 |
|
| Achentina | 1.514.075 | -35,59 | 6.047.062 | -17,83 |
| Na Uy | 1.194.365 | -24,37 | 5.897.556 | -25,1 |
| Israel | 1.335.528 | 77,27 | 5.562.786 | -7,65 |
| Panama | 1.607.023 | 24,06 | 5.217.925 | -4,02 |
| Colombia | 1.113.537 | -1,68 | 3.947.176 |
|
| Phần Lan | 1.878.415 | 132,52 | 3.752.101 | -12,88 |
| Ghana |
| -100 | 3.686.859 | 4,736,11 |
| Séc | 1.546.088 | 314,25 | 3.567.257 | 14,25 |
| Mozambique | 70.116 |
| 3.446.060 |
|
| Pê Ru | 1.179.399 | 112,96 | 2.968.176 |
|
| Thụy Sỹ | 1.005.602 | 42,18 | 2.824.757 | -27,29 |
| Lào | 921.234 | 60,1 | 2.578.902 | 73,83 |
| Kenya | 762.493 | 51,43 | 2.276.672 |
|
| Hy Lạp | 709.801 | -1,6 | 2.070.659 | -14,76 |
| Ai Cập | 594.980 | 116,91 | 2.035.048 | 18,79 |
| Luxembourg | 348.488 | -34,07 | 1.459.757 |
|
| Ukraine | 741.448 | 634,81 | 1.182.368 | 9,01 |
| Senegal |
| -100 | 878.500 |
|
| Slovakia | 134.999 | -20,55 | 473.445 | 51,49 |
| Hungary |
|
| 151.568 | -88,63 |
(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)
Theo Vinanet.vn
1Việt Nam nhập siêu khá lớn từ Trung Quốc và Hàn Quốc đồng thời xuất siêu lớn qua Mỹ và EU trong năm tháng đầu năm 2016. Tổng quan, theo báo cáo của Tổng cục Thống kê vừa công bố, cả nước vẫn xuất siêu 1,36 tỉ đô la Mỹ trong 5 tháng.
2Dù kim ngạch ngành chế biến xuất khẩu gỗ của Việt Nam luôn ở mức cao so với các nước trong khu vực nhưng ứng dụng công nghệ, năng suất lao động lại thấp hơn
3Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 4 tháng đầu năm 2016 đạt trên 2,1 tỷ USD, tăng nhẹ 1,12% so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó, riêng sản phẩm gỗ đạt gần 1,54 tỷ USD, chiếm 73,15% trong tổng kim ngạch, tăng 5,08%.
4Do nhập siêu ước tính khoảng 400 triệu trong tháng 5, nên mức xuất siêu hàng hóa của Việt Nam trong 5 tháng đầu năm giảm còn 1,36 tỷ USD.
5Tháng 4/2016, XK cá ngừ của Việt Nam đã phục hồi, đạt gần 42,5 triệu USD, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm 2015. Tuy nhiên, do giá trị XK cá ngừ trong tháng 2 và 3 thấp hơn so với cùng kỳ, nên tổng giá trị XK cá ngừ của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm nay cũng thấp hơn so với năm trước, chỉ đạt hơn 141 triệu USD, giảm hơn 3%.
6Đối với nhiều mặt hàng như rau quả, tỏi, gừng, mật ong... Việt Nam là nước ASEAN đầu tiên mà Hàn Quốc cam kết cắt giảm thuế, nhưng với lộ trình cắt giảm kéo dài từ 10-15 năm.
7“Cứ hai hạt điều mà người Mỹ ăn, có một hạt điều mua từ VN”- ông Đặng Hoàng Giang, phó chủ tịch Hiệp hội Điều VN (Vinacas), dẫn thông tin chứng tỏ hạt điều VN đã có một chỗ đứng khá vững chắc tại thị trường Mỹ.
8Theo số liệu thống kê, nhập khẩu lúa mì về Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2016 đạt 1.256.662 tấn, trị giá 274.843.034 USD, tăng 64,78% về lượng và tăng 29,85% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
9Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, 4 tháng đầu năm 2016, cả nước nhập khẩu 29.054 chiếc ô tô các loại, trị giá gần 732,64 triệu USD, giảm 17% cả về lượng và giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, nhập khẩu ô tô nhiều nhất là từ Thái Lan với 10.155 xe.
Dù nằm danh sách những nước xuất khẩu lớn trên thế giới nhưng chè Việt Nam dường như vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức, khó có thể bước qua cánh cửa hội nhập khi thương hiệu mờ nhạt, giá trị xuất khẩu còn thấp.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự