Trong 6 tháng đầu năm 2016, tổng kim ngạch XK mực, bạch tuộc của cả nước đạt 179,35 triệu USD, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm 2015.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong quý 1/2019 kim ngạch xuất khẩu túi xách, va li, ô dù ra thị trường nước ngoài đạt 841,23 triệu USD, tăng 10,4% so với quý 1/2018; trong đó riêng tháng 3/2019 đạt 299,8 triệu USD, tăng mạnh 82,5% so với tháng 2/2019 và tăng 9,7% so với tháng 3/2018.
Xuất khẩu túi xách, va li, ô dù sang thị trường lớn nhất là Mỹ tăng trưởng cao 30,7% so với cùng kỳ năm 2018, đạt gần 345,43 triệu USD, chiếm 41,1% trong tổng kim ngạch xuất khẩu túi xách, va li, ô dù của cả nước. Riêng tháng 3/2019 xuất khẩu sang Mỹ cũng tăng mạnh 65,2% so với tháng 2/2019 và tăng 25,1% so với cùng tháng năm 2018, đạt 113,97 triệu USD.
Túi xách, va li, ô dù xuất khẩu sang thị trường các nước EU – thị trường đứng thứ 2 về kim ngạch cũng tăng rất cao trong tháng 3/2019 tăng 134,8% so với tháng 2/2019 và tăng 79,3% so với tháng 3/2018, đạt 82,99 triệu USD. Tinh chung cả quý 1/2019 xuất sang EU tăng 52,7%, đạt 208,83 triệu USD, chiếm 24,8%.
Xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản tháng 3/2019 tăng 90,5% so với tháng 2/2019 và tăng 2,6% so với tháng 3/2018, đạt 34,22 triệu USD; nâng kim ngạch cả quý 1/2019 lên 104,9 triệu USD, tăng 9,8%, chiếm 12,4%.
Nhìn chung, trong quý 1 năm nay, xuất khẩu túi xách, va li, ô dù sang phần lớn các thị trường tăng kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018, trong đó xuất sang thị trường Malaysia tăng mạnh nhất 109%, đạt 4,59 triệu USD; Bên cạnh đó, xuất khẩu còn tăng mạnh ở các thị trường như: Na Uy tăng 54,9%, đạt 1,91 triệu USD; Đông Nam Á tăng 52,4%, đạt 9,85 triệu USD; Mexico tăng 48,4%, đạt 3,24 triệu USD.
Tuy nhiên, túi xách, va li, ô dù xuất khẩu sụt giảm mạnh ở một số thị trường như: Séc giảm 64,4%, đạt 0,46 triệu USD; Singapore giảm 38,6%, đạt 2,57 triệu USD; Đan Mạch giảm 35%, đạt 1,39 triệu USD.
Xuất khẩu túi xách, va li, ô dù quý 1/2019
ĐVT: USD
| Thị trường | T3/2019 | +/- so với T2/2019 (%)* | Quý 1/2019 | +/- so với cùng kỳ (%)* |
| Tổng cộng | 299.798.260 | 82,54 | 841.231.495 | 10,36 |
| Mỹ | 113.970.814 | 65,17 | 345.427.790 | 30,66 |
| Nhật Bản | 34.221.891 | 90,49 | 104.897.764 | 9,82 |
| Hà Lan | 28.076.778 | 147,3 | 61.795.453 | -22,57 |
| Đức | 15.889.349 | 172,94 | 42.576.155 | 2,05 |
| Hàn Quốc | 13.699.297 | 101,63 | 38.333.498 | -7,36 |
| Pháp | 9.158.339 | 60,46 | 26.519.961 | 12,27 |
| Bỉ | 10.558.311 | 219,74 | 23.790.100 | -6,53 |
| Anh | 7.973.848 | 105,34 | 22.704.104 | 29,65 |
| Hồng Kông (TQ) | 6.402.445 | 63,64 | 18.143.074 | 6,91 |
| Canada | 6.173.337 | 95,35 | 16.947.566 | 31,88 |
| Italia | 6.097.624 | 125,16 | 16.280.023 | 25,11 |
| Australia | 2.632.283 | 19,22 | 7.607.577 | -28,22 |
| U.A.E | 3.372.888 | 109,46 | 6.731.998 | 23,33 |
| Tây Ban Nha | 2.124.186 | 135,3 | 5.731.241 | -1,9 |
| Thụy Điển | 1.564.077 | 72,63 | 5.548.390 | 32,81 |
| Đài Loan (TQ) | 2.222.607 | 111,39 | 4.946.468 | 33,54 |
| Nga | 1.527.713 | -12,99 | 4.926.618 | -15,99 |
| Malaysia | 1.727.069 | 33,23 | 4.588.293 | 109,14 |
| Mexico | 1.578.938 | 229,79 | 3.240.122 | 48,39 |
| Thái Lan | 920.584 | 67,29 | 2.691.403 | -13,58 |
| Singapore | 780.695 | 37,65 | 2.573.441 | -38,64 |
| Brazil | 1.026.292 | 55,06 | 2.438.631 | -2,5 |
| Ba Lan | 937.668 | 261,73 | 2.033.246 | -29,7 |
| Na Uy | 742.395 | 26,2 | 1.908.066 | 54,9 |
| Chile | 440.420 |
| 1.427.862 |
|
| Đan Mạch | 391.336 | -20,99 | 1.392.026 | -35,07 |
| Thụy Sỹ | 524.689 | 128,68 | 1.278.318 | -8,67 |
| Achentina | 544.694 |
| 766.282 |
|
| Peru | 391.750 |
| 663.386 |
|
| Séc | 217.328 |
| 456.986 | -64,36 |
| Nigeria |
|
| 235.001 |
|
(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)
Theo Vinanet.vn
1Trong 6 tháng đầu năm 2016, tổng kim ngạch XK mực, bạch tuộc của cả nước đạt 179,35 triệu USD, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm 2015.
2Tính riêng tháng 6/2016, nhập khẩu cao su đạt 35,4 nghìn tấn, trị giá 57 triệu USD, giảm 0,6% về lượng, nhưng tăng 1,5% về trị giá so với cùng kỳ 2015.
3Trong số những thị trường Việt Nam xuất khẩu hàng mây, tre, cói thảm thì Hoa Kỳ là thị trường chủ lực, chiếm 23,3% tổng kim ngạch.
4Nếu như hai tháng đầu năm xuất khẩu than đá suy giảm cả lượng và trị giá thì ba tháng liên tiếp sau đó lại tăng trưởng khá mạnh, tăng mạnh nhất là vào tháng 3 với mức tăng 827,4% về lượng và tăng 321,7% về trị giá so với tháng 2.
5Giày dép là nhóm hàng đứng thứ 4 về kim ngạch xuất khẩu của cả nước (sau nhóm hàng điện thoại, dệt may và máy vi tính). Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu giày dép của Việt Nam trong tháng 6/2016 đạt 1,23 tỷ USD, giảm 1,4% so với tháng 5/2016; đưa tổng kim ngạch xuất khẩu của mặt hàng này sang các thị trường trong 2 quí đầu năm 2016 lên 6,27 tỷ USD, tăng trưởng 7,2% so với cùng kỳ năm 2015.
6Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu thuỷ sản của cả nước 6 tháng đầu năm 2016 đạt 3,08 tỷ USD, tăng 2,67% so với cùng kỳ năm 2015.
7Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu rau quả trong 6 tháng đầu năm ước đạt 1,16 tỷ USD, tăng 31,22% so với cùng kỳ năm 2015. Trung Quốc vẫn là thị trường tiêu thụ rau quả Việt Nam nhiều nhất, đạt 803,8 triệu USD, tăng gần 218% so với cùng kỳ năm 2015, chiếm tới 69,5% tổng lượng rau quả xuất khẩu của cả nước.
8Gỗ là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. Trong năm 2015, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt 6,9 tỷ USD, đưa Việt Nam thành nước xuất khẩu đồ gỗ lớn thứ 4 trên thế giới, sau Trung Quốc, Đức và Ý.
9Trung Quốc là thị trường chính Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất trong nửa đầu năm nay, chiếm 52% tổng kim ngạch, đạt 2,6 tỷ USD, tăng 3,99% so với cùng kỳ.
10Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, trong 6 tháng đầu năm 2016 lượng thép nhập khẩu về Việt Nam là 9,66 triệu tấn , trị giá 3,8 tỷ USD (tăng 39,98% về lượng nhưng giảm 0,26% về trị giá). Lượng thép nhập khẩu 6 tháng đã gần bằng 2/3 tổng lượng thép nhập khẩu trong cả năm 2015 (là 15,098 triệu tấn).
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự