Đây là hai thị trường có tốc độ tăng mạnh trong hai tháng đầu năm 2019, tuy chỉ chiếm 2,8% thị phần.

2 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu sắt thép tăng mạnh 33,7% về lượng và tăng 18,1% về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 1,23 triệu tấn, tương đương 773,68 triệu USD.
Theo tính toán từ số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu sắt thép sau khi tăng mạnh trong tháng 1/2019 thì sang tháng 2/2019 giảm mạnh 40,5% về lượng và giảm 39,9% về kim ngạch, đạt 458.867 tấn, tương đương 290,95 triệu USD. So với cùng tháng năm 2018 cũng giảm 3,7% về lượng và giảm 13,5% về kim ngạch. Giá xuất khẩu sắt thép trong tháng 2 tăng nhẹ 1,1 % so với tháng 1/2019 nhưng giảm 10,3% so với tháng 2/2018, đạt 634,1 USD/tấn.
Tính chung cả 2 tháng đầu năm 2019 xuất khẩu sắt thép tăng mạnh 33,7% về lượng và tăng 18,1% về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 1,23 triệu tấn, tương đương 773,68 triệu USD. Giá xuất khẩu trung bình sụt giảm 11,7% so với cùng kỳ, đạt 629,4 USD/tấn.
Campuchia đứng đầu thị trường tiêu thụ các loại sắt thép của Việt Nam, chiếm 23,7% trong tổng lượng sắt thép xuất khẩu của cả nước và chiếm 22,1% trong tổng kim ngạch, đạt 290.811 tấn, tương đương 171,02 triệu USD, tăng 73,1% về lượng và tăng 62,5% về kim ngạch so với cùng kỳ.
Xuất khẩu sang Indonesia – thị trường lớn thứ 2 đạt 160.295 tấn, tương đương 105,95 triệu USD, tăng 19,3% về lượng và tăng 5,6% về kim ngạch, chiếm gần 14% trong tổng lượng và tổng kim ngạch.
Tiếp sau đó là thị trường EU chiếm trên 9% trong tổng lượng và tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của cả nước, đạt 117.594 tấn, tương đương 70,53 triệu USD, tăng 24,4% về lượng và nhưng giảm 0,7% về kim ngạch
Xuất khẩu sang Malaysia tăng 1,7% về lượng nhưng giảm 4,4% về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 116.355 tấn, tương đương 70,63 triệu USD, chiếm trên 9% trong tổng lượng và tổng kim ngạch.
Nhìn chung, trong 2 tháng đầu năm nay xuất khẩu sắt thép sang đa số các thị trường tăng trưởng so với cùng kỳ năm trước; trong đó đáng chú ý một số thị trường mặc dù lượng xuất khẩu và kim ngạch không lớn nhưng tăng đột biến so với cùng kỳ như: Saudi Arabia tăng gấp 170 lần về lượng và tăng gấp 95,7 lần về kim ngạch, đạt 3.742 tấn, tương đương 2,47 triệu USD; Pakistan tăng gấp 20,4 lần về lượng và tăng gấp 15,8 lần về kim ngạch, đạt 22.257 tấn, tương đương 10,47 triệu USD; Ai Cập tăng gấp 10,5 lần về lượng và tăng gấp 14,4 lần về kim ngạch, đạt 1.292 tấn, tương đương 0,86 triệu USD.
Ngược lại, xuất khẩu sắt thép sụt giảm mạnh ở một số thị trường như: Tây Ban Nha giảm 85% về lượng và giảm 81,3% về kim ngạch so với cùng kỳ, đạt 1.518 tấn, tương đương 1,45 triệu USD; U.A.E giảm 1,7% về lượng và giảm 63,5% về kim ngạch, đạt 2.597 tấn, tương đương 1,69 triệu USD; Myanmar giảm 38,5% về lượng và giảm 32,8% về kim ngạch, đạt 8.048 tấn, tương đương 5,89 triệu USD.
Xuất khẩu sắt thép 2 tháng đầu năm 2019
Thị trường | 2T/2019 | +/- so với cùng kỳ (%)* | ||
Lượng (tấn) | Trị giá (USD) | Lượng | Trị giá | |
Tổng cộng | 1.229.271 | 773.678.076 | 33,65 | 18,07 |
Campuchia | 290.811 | 171.015.402 | 73,06 | 62,51 |
Indonesia | 160.295 | 105.951.130 | 19,34 | 5,57 |
Malaysia | 116.355 | 70.629.798 | 1,74 | -4,36 |
Mỹ | 106.169 | 84.506.342 | -14,77 | -18,93 |
Thái Lan | 87.414 | 47.674.246 | 94,83 | 53,42 |
Philippines | 68.731 | 32.977.166 | 161,09 | 113,68 |
Italia | 61.608 | 31.758.582 | 259,9 | 142,54 |
Hàn Quốc | 54.034 | 34.936.873 | 37,05 | 43,05 |
Bỉ | 50.474 | 33.923.641 | -20,3 | -26,58 |
Đài Loan (TQ) | 29.500 | 17.289.763 | -37,44 | -26,17 |
Nhật Bản | 28.295 | 16.558.831 | 9,5 | -2,57 |
Pakistan | 22.257 | 10.465.898 | 1.943,8 | 1.478,62 |
Lào | 18.536 | 12.632.210 | -7,03 | -9,93 |
Ấn Độ | 17.072 | 9.798.662 | 18,95 | -25,11 |
Australia | 11.491 | 8.818.771 | 25,43 | 32,21 |
Trung Quốc đại lục | 8.240 | 4.799.176 | 228,03 | 42,91 |
Myanmar | 8.048 | 5.885.188 | -38,51 | -32,76 |
Singapore | 4.039 | 2.743.421 | 292,52 | 209,34 |
Anh | 3.994 | 3.406.226 | 18,34 | 24,65 |
Saudi Arabia | 3.742 | 2.472.001 | 16.909,09 | 9.462,87 |
U.A.E | 2.597 | 1.685.177 | -1,7 | -63,46 |
Tây Ban Nha | 1.518 | 1.446.497 | -85,01 | -81,26 |
Nga | 1.432 | 1.297.153 | 87,43 | 43,69 |
Ai Cập | 1.292 | 862.358 | 1.950,79 | 1.337,45 |
Thổ Nhĩ Kỳ | 500 | 722.672 | 62,34 | 61,79 |
Bangladesh | 216 | 136.583 |
|
|
Hồng Kông (TQ) | 37 | 73.853 | -17,78 | 7,2 |
(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)
Theo Vinanet.vn
1Đây là hai thị trường có tốc độ tăng mạnh trong hai tháng đầu năm 2019, tuy chỉ chiếm 2,8% thị phần.
2Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, xuất khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường Ba Lan trong tháng 2/2019 tăng rất mạnh cà về lượng (+376,07%) đạt 557 tấn và trị giá (+303,38%) đạt 284.844 USD so với tháng đầu năm 2019. Kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong hai tháng đầu năm nay đạt 355.459 USD, chiếm tỷ trọng 0,16% trong tổng kim ngạch. Tuy nhiên trong cùng kỳ năm ngoái, Ba Lan đã không nhập khẩu nhóm hàng này từ nước ta.
3Theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu thủy sản liên tục sụt giảm trong 2 tháng đầu năm (tháng 1/2019 giảm 3,5%, tháng 2 giảm tiếp 49,7%, đạt 372,78 triệu USD). Tính chung kim ngạch xuất khẩu thủy sản của cả nước 2 tháng đầu năm 2019 đạt gần 1,11 tỷ USD, tăng 3,5% so với 2 tháng đầu năm 2018.
4Mặc dù lượng chè xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc chỉ chiếm 4,5% thị phần, nhưng lại có giá cao nhất, bình quân đạt 4.253,29 USD/tấn và tăng mạnh so với cùng kỳ 2018.
5Theo thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu gạo ra thị trường nước ngoài trong 2 tháng đầu năm 2019 đạt 711.759 tấn, thu về 311,59 triệu USD, giảm 14,4% về lượng và giảm 23,6% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018.
6Theo thống kê sơ sộ của Tổng cục Hải quan, thủy sản nhập khẩu về Việt Nam 2 tháng đầu năm 2019 giảm nhẹ 2,8% so với cùng kỳ năm 2018, đạt 264,14 triệu USD. Riêng tháng 2/2019 giảm 31,3% so với tháng 1/2019 nhưng tăng 8,9% so với tháng 2/2018, đạt 107,48 triệu USD.
7Cao su của Việt Nam được xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Trung Quốc – đây là thị trường có vị trí và khoảng cách địa lý thuận lợi, chiếm 64,61% thị phần.
8Với vị trí và khoảng cách địa lý thuận lợi, từ lâu Trung Quốc đã trở thành thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam là luôn đạt kim ngạch trên tỷ USD. Trung Quốc cũng là một trong những thị trường nhập khẩu hàng nông sản lớn trên thế giới.
9Năm 2018, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Lào đạt hơn 1 tỷ USD, tăng 14% so năm 2017. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu của Lào qua Việt Nam đạt hơn 723 triệu USD và nhập hơn 552 triệu USD hàng hoá từ Việt Nam.
10Hai tháng đầu năm 2019, lượng xăng dầu nhập khẩu vào Việt Nam giảm 47,7% và kim ngạch giảm 53,1% so với cùng kỳ năm trước.
Kinh tế vĩ mô
Kinh tế Thế giới
Nông lâm thủy sản
Hàng hóa
Thông tin ngành
Chính khách - Yếu nhân
Quân sự - Chiến sự