tin kinh te
 
 
 
rss - tinkinhte.com

Tình hình giá cả thị trường tháng 4/2016

  • Cập nhật : 13/05/2016

(Tin kinh te)

Cục Quản lý giá (Bộ tài chính) vừa thông tin về tình hình giá cả thị trường tháng 4/2016, trong đó cho biết, tháng 4/2016 là tháng 4 có chỉ số giá tăng cao nhất trong bốn năm trở lại đây.

Dẫn số liệu của Tổng cục Thống kê Cục Quản lý giá cho biết, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 4/2016 tăng 0,33% so với tháng 3/2016. Mức tăng này tuy thấp hơn mức tăng CPI tháng 2/2016 (0,42%) và tháng 3/2016 (0,57%) nhưng vẫn là mức tăng cao so với các tháng cuối năm 2015; đồng thời là tháng 4 có chỉ số giá tăng cao nhất trong bốn năm trở lại đây.

Chỉ số CPI tháng 4/2016 tăng ở 8 nhóm; trong đó, các nhóm có mức tăng cao là nhóm Giao thông tăng 1,73%; Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,71%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,45%; Các nhóm khác tăng nhẹ từ 0,05 - 0,37%. Có 2 nhóm ổn định là nhóm Hàng ăn và dịch vụ ăn uống và nhóm Bưu chính viễn thông; Nhóm Văn hóa, giải trí và du lịch giảm nhẹ 0,01%.

anh minh hoa

Ảnh minh họa

Cụ thể diễn biến tình hình giá cả một số mặt hàng thiết yếu trong tháng 4/2016 như sau:

Thóc, gạo: Tại miền Bắc, giá thóc, gạo tẻ thường tăng so với cùng kỳ tháng 3/2016. Giá thóc tẻ thường dao động phổ biến ở mức 6.500-7.500 đồng/kg (tăng 500 đồng/kg); giá một số loại thóc chất lượng cao hơn phổ biến ở mức 8.000-9.500 đồng/kg (tăng 500 đồng/kg); giá gạo tẻ thường dao động phổ biến ở mức 8.500-14.000 đồng/kg (tăng 500-1.000 đồng/kg).

Tại miền Nam, thị trường lúa gạo tháng 4/2016 có xu hướng chững lại và giảm nhẹ so với cùng kỳ tháng 3/2016 do các kho gạo của doanh nghiệp hiện đã đầy hàng nên ngừng thu mua lúa. Giá lúa khô tại kho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long loại thường dao động từ 5.400-5.500 đồng/kg (giảm khoảng 200 đồng/kg). Giá gạo thành phẩm xuất khẩu loại 5% tấm dao động từ 7.700-8.000 đồng/kg (giảm 100 đồng/kg) và gạo 25% tấm khoảng 6.900-7.450 đồng/kg (giảm khoảng 50 đồng/kg).

Thực phẩm tươi sống: Trong tháng 4/2016, giá thực phẩm tươi sống biến động không đều giữa các mặt hàng. Trong khi giá thịt bò vẫn ổn định thì giá thịt lợn hơi tăng do thương lái tiếp tục tăng cường xuất tiểu ngạch sang Trung Quốc. Giá thịt gia cầm và một số loại thủy hải sản tăng nhẹ do nhu cầu tiêu dùng vào dịp nghỉ lễ tăng đồng thời do tác động của hạn hán, xâm nhập mặn. Giá một số loại rau củ quả tăng nhẹ do một số rau vụ đông đã vào cuối vụ tại miền Bắc và hạn hán tại miền Nam, nguồn cung giảm. Cụ thể:

Thịt lợn hơi: Tại miền Bắc, giá phổ biến khoảng 50.000 - 53.000 đồng/kg (tăng 3.000 - 4.000 đồng/kg), tại Miền Nam, giá phổ biến khoảng 47.000 - 50.000 đồng/kg (tăng 2.000 - 5.000 đồng/kg).

Thịt bò thăn giá phổ biến khoảng 260.000 - 275.000 đồng/kg.

Thịt gà ta làm sẵn có kiểm dịch: Giá phổ biến ở mức 115.000 - 120.000 đồng/kg (tăng 5.000 đồng/kg); thịt gà công nghiệp làm sẵn ở mức 55.000 - 60.000 đồng/kg (tăng 5.000 đồng/kg).

Giá một số loại rau, củ, quả vụ đông tăng nhẹ. Cụ thể: Bắp cải phổ biến 17.000 -18.000 đồng/kg (tăng 1.000 - 2.000 đồng/kg), khoai tây phổ biến 20.000 - 22.000 đồng/kg (tăng 2.000 đồng/kg), cà chua phổ biến 20.000 - 25.000 đồng/kg (tăng 2.000 đồng/kg).

Giá một số mặt hàng thuỷ hải sản tăng nhẹ: Cá chép phổ biến 72.000 - 80.000 đồng/kg (tăng 2.000 đồng/kg); tôm sú phổ biến 185.000 - 190.000 đồng/kg (tăng 5.000 đồng/kg); cá quả phổ biến 123.000 - 125.000 đồng/kg (tăng 3.000 đồng/kg).

Muối: Giá muối tháng 4/2016 tương đối ổn định tại miền Bắc, tại khu vực miền Nam và Nam Trung Bộ, giá muối giảm. Cụ thể: miền Bắc từ 1.500 - 2.500 đồng/kg; Nam Trung Bộ: muối thủ công từ 250­650 đồng/kg, giảm 50-150 đồng/kg, muối công nghiệp từ 550 - 700 đồng/kg; Đồng bằng sông Cửu Long từ 300 - 900 đồng/kg.

Đường: Giá bán lẻ đường trên thị trường vẫn ổn định so với tháng 3/2016, dao động ở mức 17.000 - 19.000 đồng/kg.

Phân bón Urê: Nhu cầu phân bón trong nước tháng 4/2016 vẫn trong giai đoạn thấp, bên cạnh đó hạn hán và xâm ngập mặn tiếp tục ảnh hưởng (đến giữa tháng 3/2016 đã có 11 tỉnh công bố tình trạng thiên tai hạn hán và xâm ngập mặn) nên giá phân bón trong nước không có nhiều biến động. Cụ thể: Tại miền Bắc, mức giá phổ biến khoảng 7.500 - 7.800 đồng/kg; tại miền Nam, mức giá phổ biến khoảng 7.500 - 7.700 đồng/kg.

Thức ăn chăn nuôi: Theo Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam, so với tháng 3/2016, trong tháng 4/2016, giá một số nguyên liệu giảm nhẹ từ 2,9-10% như: bột cá, methionine, lysine, giá một số nguyên liệu lại có chiều hướng tăng nhẹ từ 5-8,1% như ngô, khô dầu đậu tương, sắn lát. Giá thức ăn chăn nuôi thành phẩm giảm nhẹ, hiện giá thức ăn hỗn hợp cho gà thịt ở mức: 9.100 - 9.200 đồng/kg, giảm 0,4%, giá thức ăn hỗn hợp cho lợn thịt ổn định ở mức: 8.000 đồng/kg.

Sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi: Giá sữa bột dành cho trẻ em dưới 6 tuổi tháng 4/2016 ổn định so với tháng 3/2016. Trong tháng 4/2016, có 10 sản phẩm sữa dành cho trẻ em dưới 06 tuổi mới đã được công bố giá tối đa và giá kê khai. Tính từ 1/6/2014 đến 25/4/2016, đã có 841 mặt hàng sữa dành cho trẻ em dưới 6 tuổi được công bố giá tối đa, giá đăng ký, giá kê khai trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ Tài chính và Sở Tài chính các địa phương.

Xi măng: Theo báo cáo của Sở Tài chính các tỉnh, thành phố, giá bán lẻ xi măng tháng 4/2016 cơ bản ổn định so với tháng 3/2016; tại các tỉnh miền Bắc, miền Trung hiện phổ biến từ 1.050.000 - 1.550.000 đồng/tấn; tại các tỉnh miền Nam phổ biến từ 1.460.000 - 1.850.000 đồng/tấn.

Thép xây dựng: Giá bán lẻ thép xây dựng tháng 4/2016 trên thị trường tăng từ 100 - 500 đồng/kg so với tháng 3/2016; cụ thể tại các tỉnh miền Bắc và miền Trung dao động phổ biến ở mức 12.600 - 15.550 đồng/kg, tại các tỉnh Miền Nam dao động phổ biến ở mức 12.700 - 15.650 đồng/kg.

LPG: Do tác động của giá CP (contract price), các doanh nghiệp trong nước điều chỉnh tăng giá LPG khoảng 495-792 đồng/kg, tương ứng với mức điều chỉnh tăng khoảng 6.000-9.500 đồng/bình 12kg. Mức điều chỉnh có sự chênh lệch giữa các doanh nghiệp do một số doanh nghiệp điều chỉnh mức premium. Cụ thể giá bán lẻ đến tay người tiêu dùng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 269.000 đồng/bình 12kg (tăng khoảng 9.500 đồng/bình 12kg); Khu vực Hà Nội khoảng 257.000- 286.000đồng/bình 12 kg (tăng khoảng 6.000 - 9.000 đồng/bình 12kg).

Xăng, dầu: Do giá xăng dầu thành phẩm trên thị trường thế giới bình quân tháng 4/2016 tăng 3,79­8,69% so với tháng trước, tác động làm giá xăng dầu trong nước tháng 4/2016 được điều chỉnh 02 đợt, cụ thể: ngày 5/4 giá xăng được điều chỉnh tăng trong khoảng từ 520-550 đồng/lít, tùy từng loại và ngày 20/4 giá dầu diezen được điều chỉnh tăng 500 đồng/lít và dầu madut tăng 340 đồng/kg. Hiện giá bán lẻ xăng dầu như sau: xăng Ron 95: 15.640 đồng/lít; xăng Ron 92: 14.940 đồng/lít; xăng E5: 14.440 đồng/lít; dầu diezen 0,05S: 9.870 đồng/lít; dầu hỏa: 8.900 đồng/lít; dầu madut 3,5S: 7.220 đồng/kg.

Vàng: Trong tháng 4/2016, trước những diễn biến tăng/giảm liên tục của giá vàng thế giới, giá vàng trong nước cũng có những sự biến động, tuy nhiên mức độ điều chỉnh theo biên độ hẹp. Giá vàng giao dịch phổ biến quanh mức 33,3 triệu đồng/lượng. Theo quy đổi của tỷ giá liên ngân hàng, hiện tại giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới khoảng 400.000 đồng/lượng. Giá bán vàng 99,99% tại các công ty kinh doanh vàng bạc Nhà nước tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh (đầu tháng) dao động lần lượt ở mức 3,330-3,337 triệu đồng/chỉ, đến cuối tháng, giá vàng tăng nhẹ và dao động phổ biến ở mức 3,345-3,348 triệu đồng/chỉ, với mức tăng nhẹ lần lượt là 15.000-11.000 đồng/chỉ.

Đôla Mỹ: Trong tháng 4/2016, tỷ giá trung tâm được điều chỉnh và có xu hướng giảm, thời điểm cuối tháng áp dụng ở mức 21.842 đồng/US D, giảm 8 đồng so với mức áp dụng đầu tháng (21.850 đồng/US D). Để hỗ trợ ổn định tỷ giá, thực hiện chủ trương chống Đôla hóa của Chính phủ, các hoạt động cho vay ngoại tệ đang được hạn chế từng bước, phù hợp với định hướng chuyển dần quan hệ huy động, cho vay ngoại tệ sang quan hệ mua, bán ngoại tệ. Tại ngân hàng thương mại, tỷ giá Đôla Mỹ đầu tháng được niêm yết ở mức mua vào/ bán ra là: 22.255-22.325 đồng/US D, đến cuối tháng, tỷ giá có xu hướng giảm nhẹ xuống mức 22.250-22.320 đồng/US D, với cùng mức giảm ở hai chiều mua vào/bán ra là 5 đồng/US D.

Tỷ giá hạch toán giữa Đồng Việt Nam với Đôla Mỹ tháng 5/2016 được Bộ Tài chính công bố áp dụng cho các nghiệp vụ quy đổi và hạch toán thu, chi ngân sách Nhà nước bằng ngoại tệ; quy đổi và hạch toán sổ sách kế toán của Kho bạc Nhà nước là 1US D = 21.853 đồng, giảm 21 đồng so với tháng trước.

(Thời báo Ngân hàng)

Trở về

Bài cùng chuyên mục