1. Khái quát:
- Vị trí địa lý: CHTN Tanzania ở phía đông châu Phi, bao gồm phần lục địa và một số đảo trong đó quan trọng nhất là ba đảo Zanzibar, Pemba và Mafia. Tanzania có đường biên giới chung với Kenya, Uganda, Rwanda, Burundi, Cộng hòa dân chủ Công-gô, Dămbia, Malawi và Mô-dăm-bích, phía đông nhìn ra Ấn Độ Dương. Tanzania là hợp nhất của nước Cộng hoà Tanganyika với nước Cộng hoà Zanzibar.
- Diện tích : 945.087 km2 (trong đó có 886.037 km2 đất liền)
- Dân số : 40,21 triệu người (2007).
- Thủ đô : Dar Es Salaam
- Khí hậu: Thay đổi theo vùng, vùng biển khí hậu nhiệt đới, vùng cao khí hậu nóng.
- Ngôn ngữ : Kiswahili hay Swahili, Kiunguju, Arabic, tiếng Anh ngoài ra còn một số thổ ngữ khác.
- Tôn giáo : Đạo Thiên chúa (30%), Hindu (1%), Đạo Hồi (33%) và các tín ngưỡng cổ truyền.
- Tiền tệ : Đồng Shilling Tanzania
- Đảng cầm quyền: Đảng Cách mạng Tanzania Chama Cha Mapinduzi (CCM-the Revolutionary Party of Tanzania).
- Tổng thống : Kikwete Jakaya Mrisho (từ 12/2005)
- Thủ tướng : Mizengo Kayanza Pinda (2/2005)
- Ngoại trưởng : Bernard K. Membe
- Ngày Quốc Khánh: 26/4/1964 (Ngày thống nhất)
2. Lịch sử :
- Tanganyika : Vào những năm 700 trước công nguyên, vùng lãnh thổ này bị thương nhân Arập xâm chiếm. Từ năm 1500 đến năm 1700 Bồ Đào Nha giành quyền kiểm soát ven biển của Tanganyika. Đến năm 1886, Tanganyika (cùng Burundi và Rwanda) trở thành thuộc địa của Đức ở Đông Phi. Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Tanganyika bị đế quốc Anh thống trị.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Tanganyika lại bị Anh tiếp tục cai trị nhưng do phong trào đấu tranh của nhân dân, ngày 9/12/1961, thực dân Anh buộc phải trao trả độc lập cho Tanganyika.
- Zanzibar : Bị người Arập chiếm từ thế kỷ thứ 12 trở về trước. Đến thế kỷ thứ 15, Bồ Đào Nha chiếm Zanzibar và biến nơi này thành một trạm thương mại của chúng. Thế kỷ 19, người Arập (Oman) hất chân thực dân Bồ Đào Nha và đặt ách thống trị ở đây. Năm 1861, Zanzibar lại rơi vào tay Đức và Ý suốt nửa thế kỷ. Đến năm 1890 Vương quốc Zanzibar bị đặt dưới sự bảo trợ của đế quốc Anh. Tháng 12/1963 Anh buộc phải trao trả độc lập cho Zanzibar, nhưng chính quyền vẫn nằm trong tay bọn tư bản địa chủ Arập.
Ngày 12/1/1964, Zanzibar tiến hành cách mạng lật đổ bọn tư bản địa chủ và lập nên nước Cộng hoà nhân dân Zanzibar (do những người gốc Phi có xu hướng mác-xít lãnh đạo quần chúng làm cách mạng).
Ngày 26/4/1964, hai nước Cộng hoà Tanganyika và Cộng hoà Zanzibar hợp nhất thành nước Cộng hoà Thống nhất Tanzania.
3. Chính trị:
Theo Hiến pháp 1965, quyền lực chính quyền được tập trung vào tay Tổng thống - được bầu trực tiếp cho nhiệm kỳ 5 năm. Tổng thống sẽ chỉ định 2 phó Tổng thống (một người là Tổng thống của Zanzibar và người kia là Thủ tướng của Chính phủ hợp nhất). Quyền lập pháp được tập trung vào Quốc hội - có nhiệm kỳ năm năm và gồm có 216 đại biểu được bầu trực tiếp cùng một số đại biểu được bầu gián tiếp.
Tuy nhiên, do tình hình thay đổi và dưới sức ép của các lực lượng chính trị, tháng 2/1992, CCM (Đảng Cách mạng Tanzania) đã nhất trí tán thành hệ thống chính trị đa đảng và ngày 17/6/1992 đã thông qua đạo luật cho phép các chính đảng đối lập hoạt động.
Nội bộ Tanzania ổn định, nhưng vẫn tồn tại mâu thuẫn về quyền lực giữa các bộ tộc, phe phái cũng như giữa Tanganyika và Zanzibar. Zanzibar (dân số nửa triệu) có chính phủ, Tổng thống riêng. Tanganiyka cũng đang đòi có những cơ cấu tương tự.
Tháng 12/2005, Tanzania vừa bầu cử Tổng thống. Ông Jakaya M. Kikwete trúng cử Tổng thống với hơn 80% phiếu bầu, đồng thời là Chủ tịch Đảng Cách mạng Tanzania (CCM-Đảng cầm quyền).
4. Kinh tế:
- Tăng trưởng kinh tế từ 4% (2000) lên 6,9% (2007),
- GDP theo sức mua đạt 43,49 tỉ USD (2007), thu nhập đầu người theo sức mua đạt 1100 USD/người (2007). Xuất khẩu tăng từ 615 triệu USD (2000) lên 2,11 tỉ USD (2007). Tuy nhiên Tanzania vẫn nhập siêu do nhập khẩu đạt 4,59 tỉ USD (2007) chủ yếu là hàng tiêu dùng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, quần áo, hóa chất, dược phẩm... Nông sản xuất khẩu chủ yếu của Tanzania là sisal 181.000 tấn, đứng đầu thế giới về xuất khẩu. Ngoài ra còn có cà phê Arabica, bông, đinh hương, cùi dừa, hạt điều, thuốc lá, mía... Rừng cũng là một nguồn lợi lớn của Tanzania với sản lượng khai thác hàng năm hơn 30 triệu m3 gỗ. Lĩnh vực chế biến nông sản còn non trẻ. Ngành ngư nghiệp vùng nước mặn và nước ngọt cũng là một lĩnh vực giàu tiềm năng của Tanzania nhưng kỹ thuật còn thủ công nên chưa phát huy được hết khả năng.
Các nước đầu tư nhiều nhất vào Tanzania là Anh, Mỹ, Nam Phi, Trung quốc. Tanzania được hưởng lợi từ Đạo luật tăng trưởng kinh tế và cơ hội (AGOA) của Mỹ do đó hơn 4.000 mặt hàng của Tanzania xuất khẩu sang Mỹ được miễn thuế. Tanzania tham gia vào Công ước Lomé với EU và được hưởng ưu đãi thương mại qua hiệp định EBA (Everything but Arms) với các nước EU.
Hiện nay, Tanzania chủ trương phát triển công nghiệp nhẹ và công nghiệp chế tạo nhằm sử dụng nguyên liệu tại chỗ. Ngoài ra, Tanzania cũng đang có chính sách đặt trọng tâm thu hút du lịch để tận dụng lợi thế thiên nhiên hoang dã, nhiều điểm du lịch hấp dẫn (đỉnh núi Kilimanjaro cao nhất châu Phi , hồ Victoria lớn nhất châu Phi, công viên quốc gia nổi tiếng thế giới…).
Với kế hoạch “Tầm nhìn 2025” nhằm cải thiện mức sống người dân, kiện toàn hệ thống luật pháp, tăng tính hiệu quả của bộ máy lãnh đạo tạo ra một nền kinh tế mạnh mẽ đầy tính cạnh tranh để hướng ra xuất khẩu, giảm sự phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài. Thực hiện tầm nhìn 2025, Tanzania sẽ triển khai một số dự án lớn như xây dựng cầu nối từ Tanzania đến Mozambique, mở rộng quy mô cảng cửa ngõ Dar Es Salaam, xây dựng mạng lưới điện nối từ Zambia tới Kenya, hành lang phát triển kinh tế Mtwara…
5. Đối ngoại :
Tanzania tuyên bố thực hiện chính sách không liên kết, sẵn sàng hợp tác với tất cả các nước, chống đế quốc, thực dân, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, ủng hộ các phong trào giải phóng dân tộc.
Tanzania là thành viên của Tổ chức Thống nhất châu Phi (OUA), của LHQ và Phong trào KLK. Tanzania có vai trò quan trọng trong việc duy trì đoàn kết châu Phi và tích cực góp phần thúc đẩy hợp tác Nam – Nam.
Tanzania có quan hệ tốt và nhận nhiều viện trợ của các nước phương Tây, Mỹ và Trung quốc.
Từ ngày 1/1/2005, liên minh thuế quan giữa 3 nước Đông Phi (EAC) gồm Tan-da-ni-a, Kenya và Uganda bắt đầu có hiệu lực. EAC cũng đang thảo luận việc thành lập liên minh tiền tệ chung và tiến tới thành lập liên bang Đông Phi gồm cả Burundi và Rwanda.
Tháng 10/2004, Tan-da-ni-a được bầu là Uỷ viên không thường trực HĐBA LHQ khoá 2005-2006. Tan-da-ni-a đang tham gia tích cực vào việc giải quyết các cuộc xung đột ở châu Phi. Gần đây nhát, Tan-da-ni-a đã có những đóng góp ý nghĩa vào việc giải quyết xung đột tại Dafur, Sudan. Tan-da-ni-a là một trong những nước đi đầu ở châu Phi đòi các nước giàu xoá nợ cho các nước nghèo, tại cuộc họp thượng đỉnh các nước trong nhóm G8 tháng 7/2005, Tan-da-ni-a được xếp vào danh sách 18 nước châu Phi được G8 xoá nợ.
Ngày 5/1/2007, Tiến sĩ Asha-Rose Migiro, Bộ trưởng Ngoại giao và Hợp tác Quốc tế Tanzania được bổ nhiệm là Phó Tổng Thư ký Liên Hợp quốc, là người phụ nữ châu Phi đầu tiên được bổ nhiệm vào vị trí này.
6. Quan hệ Tanzania- Việt Nam:
Việt Nam và Tanzania thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 14/2/1965 và năm 1966 ta mở Đại sứ quán tại Dar Es Salaam. Do khó khăn kinh tế ta đóng cửa Đại sứ quán năm 1984. Tháng 11/2003, ta mở lại Đại sứ quán tại Dar Es Salaam.
Lãnh đạo Tanzania coi Việt Nam là tấm gương đấu tranh chống xâm lược đối với các dân tộc bị áp bức, đặc biệt là các nước châu Phi.
Trao đổi đoàn:
a/ Phía Việt Nam: Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình (1970), Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam Nguyễn Hữu Thọ (1973), Bộ trưởng Võ Đông Giang (1982), Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Phú Bình (9/2001), Thứ trưởng Thương mại Lê Danh Vĩnh (3/2002)......
b/ Phía Tanzania: Nguyên Tổng thống J. Nyeree vào Việt Nam dự Hội nghị về hợp tác Nam – Nam với tư cách là Chủ tịch Phương Nam (1994), Ngoại trưởng Tanzania Jakaya Kikwete (5/2001), Bộ trưởng Công nghiệp và Thương mại (11/2004), Tổng thống Benjamin W.Mkapa (12/2004), Thủ tướng Edward Lowassa (9/2006), Bộ trưởng Nông nghiệp Tanzania (9/2007).
Hai bên đã ký nhiều Hiệp định, thỏa thuận: Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, thương mại, khoa học và công nghệ và Thỏa thuận thành lập Ủy ban hỗn hợp giữa Chính phủ Tanzania và Việt Nam (12/2004); Thỏa thuận hợp tác giữa 2 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam và Phòng thương mại, Công nghiệp và Nông nghiệp Tanzania (9/2006).
Tanzania mong muốn được hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp vì vậy phía Tanzania cho biết sẵn sàng dành diện tích đất canh tác nông nghiệp lớn cho Việt Nam để khai thác và hợp tác và đề nghị Việt Nam cử chuyên gia nông nghiệp, thuỷ lợi. Về y tế, bên cạnh hình thức trao đổi chuyên gia Việt Nam giúp Tanzania chữa bệnh sởi, sốt rét, lao…bạn rất quan tâm hợp tác về chế biến thuốc Đông dược và học tập ta trong lĩnh vực y học cổ truyền. Hiện Việt Nam có 02 dự án nông nghiệp đối với Tanzania đang tìm các đối tác thực hiện, đó là dự án: Kinh tế hộ gia đình tổng hợp với Tanzania (chăn nuôi, trồng lúa, cơ khí máy móc nhỏ…) và Dự án Hợp tác trong lĩnh vực thuỷ sản, trồng và chế biến hạt điều ở đảo Zanzibar với Tanzania.
Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Tanzania đạt khoảng 30 triệu USD (2007). Việt Nam xuất khẩu sang Tanzania đạt 18,3 triệu USD chủ yếu là gạo (2007) và nhập khẩu bông, gỗ, nguyên liệu dệt may, đồ da...
Tuy nhiên trong quan hệ giữa hai nước hiện nay còn tồn tại vấn đề tranh chấp thương mại giữa công ty Mohamed Enterprises của Tanzania với công ty TNHH Thanh hòa của Việt Nam về lô hàng 6000 tấn gạo bị mất trên đường vận chuyển từ Việt Nam về Tanzania và việc Tòa án Tanzania, dưới sự tác động của công ty này đã ra lệnh bắt giữ trái phép tàu Cần Giờ của Công ty Liên doanh Vận tải thủy Sài Gòn, Việt Nam tại cảng Dar Es Salaam tháng 7/2004. (Tháng 5/2008).
Ngày 13-06-2008