I. Khái quát: Vị trí địa lý Angola ở Tây Nam châu Phi, phía Bắc giáp CHDC Congo và CH Congo, phía Đông giáp Zambia, Nam giáp Namibia và phía Tây giáp Đại tây dương. Diện tích : 1.246.700 km2 Dân số : 12.531.357 người (2008). Ngôn ngữ chính thức : Tiếng Bồ đào nha. Tôn giáo : Thiên chúa 38%, Tin lành 15%, Đạo Cổ truyền 47%. Thủ đô : Luanda. Khí hậu: 2 mùa khô và mưa ở miền Bắc và Trung, bán sa mạc ở cực Nam. Đơn vị tiền tệ: Kwanza: Tỷ giá 1US$ = 76,6 Kwanzas (2007). Ngày Quốc khánh: 11-11-1975. Tổng thống: José Eduardo dos Santos. Thủ tướng: Fernando de Piedade Dias dos Santos (Nandó). Ngoại trưởng: João Bernardo de Miranda.
II. Lịch sử: Từ thế kỷ 15, người Bồ đào nha đã đến xâm chiếm miền đất Angola ngày nay, biến thành thuộc địa và nơi buôn bán nô lệ da đen. Nhân dân Angola có truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm từ lâu đời và đã nổi dậy chống lại sự cai trị của thực dân Bồ đào nha. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều phong trào giải phóng Angola ra đời: Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola (MPLA); Liên minh Dân tộc vì Độc lập hoàn toàn của Angola (UNITA), Mặt trận Dân tộc Giải phóng Angola (FNLA), trong đó tiêu biểu nhất là MPLA thu hút được rộng rãi thành phần trí thức, công nhân, nông dân, không phân biệt bộ tộc, màu da. Ngày 4/2/1961, MPLA dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Agostinho Neto đã phát động cuộc đấu tranh chính trị và vũ trang trên toàn quốc chống thực dân Bồ đào nha. Các nước XHCN và các nước châu Phi tiến bộ ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc do MPLA lãnh đạo.
Ngày 15/11/1974, Bồ đào nha ký Hiệp định Alvor với 3 Phong trào (MPLA, UNITA, FNLA) qui định trao trả độc lập cho Angola ngày 11/11/1975. Vi phạm Hiệp đinh Alvor, được Mỹ, Nam phi và Zaire hỗ trợ, UNITA và FNLA mở cuộc tiến công nhằm tiêu diệt MPLA. Chủ tịch MPLA A.Neto kêu gọi Liên xô và Cuba giúp đỡ; quân tình nguyện Cuba đã giúp LLVT Angola quét sạch quân UNITA, FNLA ra khỏi thủ đô Luanda, các tỉnh và vùng kinh tế trọng yếu. Ngày 11/11/1975, MPLA tuyên bố độc lập, thành lập nước Cộng hoà nhân dân Angola (nay là Cộng hoà Angola).
III. Chính trị: * Thể chế: Cộng hoà Tổng thống. * Đảng phái chính trị: + Phong trào Nhân dân Giải phóng Angola (MPLA) - Đảng cầm quyền. + Liên minh Dân tộc vì Độc lập hoàn toàn của Angola (UNITA). + Đảng Mặt trận Dân tộc Giải phóng Angola (FNLA). + Đảng Đổi mới Xã hội (PRS). + Đảng Dân chủ Tự do (PLD). + Đảng Diễn đàn Dân chủ Angola (FDA). * Phong trào ly khai : Mặt trận Giải phóng Vùng Lõm Cabinda (FLEC)
IV. Kinh tế:
Angola có nhiều tài nguyên: dầu lửa, kim cương, vàng, bạc, đồng, cô-ban, thiếc, kẽm, sắt. Dầu lửa (sản lượng 1,9 triệu thùng/ngày năm 2008 chiếm 52% GDP, 78% thu ngân sách, 93% xuất khẩu); kim cương (829,7 triệu USD/2006) là nguồn thu nhập ngoại tệ chủ yếu của nước này. Đất đai màu mỡ, khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới ôn hoà. Cây công nghiệp: cà-phê, bông, mía, thuốc lá; Cây lương thực: gạo, ngô, khoai sắn, lúa mì. Cá và gỗ cũng là hai nguồn lợi quan trọng của Angola.
Cơ cấu kinh tế theo GDP: Nông nghiệp: 9,6 %; Công nghiệp: 65,8 %; Dịch vụ: 24,6% (2005). Nhưng theo phân bố lao động thì nông nghiệp chiếm tới 85% còn công nghiệp và dịch vụ chỉ chiếm 15%.
Mặt hàng xuất khẩu: Dầu lửa, Kim cương, Cà phê. Bạn hàng xuất khẩu: Mỹ, Trung Quốc, Tây Âu, Nhật bản, Đài loan. Mặt hàng nhập khẩu: Máy móc thiết bị, xe cộ, lương thực, thuốc men, hàng tiêu dùng. Bạn hàng nhập khẩu: Bồ Đào Nha, Nam Phi, Tây Âu, Mỹ, TQ, Brasil, Hàn Quốc...
GDP: 61,04 tỷ USD (2007); GDP đầu người: 1.350 USD (2006) Tốc độ tăng trưởng GDP: 16,3 % (2007); Xuất khẩu : 43,23 tỷ USD; Nhập khẩu: 11,41 tỷ USD (2007);
V. Đối ngoại: Là thành viên của LHQ, AU, KLK, SADC, COMESA, ACP, PALOP, WTO, AfDB, IMF, WB… Angola theo đường lối KLK, thực dụng, ưu tiên quan hệ với các nước nói tiếng Bồ và các nước khu vực, đặc biệt là miền Nam châu Phi, tranh thủ quan hệ với Mỹ, Tây Âu, Nhật bản, Trung Quốc, duy trì quan hệ với các nước bạn bè truyền thống.
VI. Quan hệ với Việt Nam:
Ngày lập quan hệ ngoại giao: 12/11/1975. Trao đổi Đoàn: Phía Angola có: Chủ tịch MPLA, A.Neto sang thăm hữu nghị Việt Nam tháng 8/1971. Chủ tịch nước CHND Angola, Dos Santos, thăm Việt Nam tháng 4/1987. Bộ trưởng Ngoại giao Angola Paulo Jorge thăm VN 1979. Bộ trưởng Ngoại giao João Bernardo de Miranda thăm VN tháng 5/2004. Chủ tịch Quốc hội Roberto de Almeida thăm VN tháng 10/2004.
Phía Việt Nam có: Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Nguyễn Hữu Thọ thăm Angola tháng 10/1978; Phó CT HĐBT, Đại tướng Võ Nguyên Giáp thăm Angola tháng 12/1980. Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm thăm Angola tháng 3/1995. Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm chính thức Angola tháng 10/2002. Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nông Đức Mạnh thăm chính thức Angola tháng 4/2008.
Nhiều Đoàn cấp Bộ trưởng, Thứ trưởng Angola thuộc các ngành Nông nghiệp, Giáo dục, Y tế, Thuỷ sản, Cựu Chiến binh, Quốc phòng, An ninh, Ngoại giao đã vào thăm VN. Các Đoàn Đảng ta và Đảng MPLA cấp UV Bộ Chính trị, UV TW sang dự Đại hội của nhau.
Ta và Bạn đã ký: Hiệp định hợp tác giữa Đảng cộng sản Việt Nam và MPLA-Đảng lao động (5/1983); Hiệp định Thương mại (5/1978). Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, văn hoá và khoa học kỹ thuật (1979); Hiệp định đặc biệt về cử chuyên gia VN sang Angola (8/1984), ký lại Hiệp định về cử chuyên gia Việt Nam sang Angola hợp tác trong lĩnh vực giáo dục (1995) và Y tế (1996); Thoả thuận hợp tác Nông nghiệp, Nghị định thư hợp tác hai Bộ Ngoại giao (2002), Thuỷ sản (2004). Hiệp định khung về hợp tác Kinh tế, Khoa học kỹ thuật và Văn hóa; Hiệp định miễn thị thực cho người mang hộ chiếu ngoại giao, công vụ; Hiệp định Thương mại; Nghị định thư về hợp tác trong lĩnh vực Dầu lửa và Khí đốt (4/2008).
Từ 28-30/4/2008, hai Bên đã họp UBHH lần thứ 4 tại Hà Nội; tại kỳ họp này, Việt Nam và Angola đã ký Biên bản kỳ họp thứ 4 UBHH về hợp tác kinh tế, khoa học kỹ thuật, y tế, văn hóa và giáo dục; Hiệp định hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và đại học; Hiệp định hợp tác trong lĩnh vực giáo dục đại học và đào tạo cán bộ.
Theo số liệu của Bộ Thương mại, kim ngạch trao đổi hai chiều năm 2007 đạt 52.840.000 USD, trong đó ta xuất 49.365.000 USD (chủ yếu là gạo, hàng dệt may, nước trái cây các loại, nước hoa, giày dép các loại, sản phẩm chất dẻo), nhập 3.475.000 USD (chủ yếu là sắt thép phế liệu). Từ năm 1986, ta đã cử nhiều lượt chuyên gia sang công tác tại Angola; hiện tại có khoảng 350 chuyên gia y tế và giáo dục. Cộng đồng người Việt đang làm ăn, buôn bán tại Angola khoảng trên 4500 người.
Ta lập Sứ quán thường trú tại Angola năm 1976, rút Sứ quán năm 2000 chuyển sang Nam Phi và lập lại Sứ quán ở Luanda vào năm 2002. Phía Angola cử Đại sứ thường trú tại Bắc kinh kiêm nhiệm Việt Nam.
Hà Nội (TTXVN) - Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nêu rõ Việt Nam trước sau như một luôn coi trọng và mong muốn củng cố và phát triển hơn nữa quan hệ đoàn kết hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với Ănggôla và các nước bạn bè truyền thống ở châu Phi, vì lợi ích của nhân dân mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Ngày 27/6/2005, tại Luanda, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước ta tại Angola đã trình Thư Ủy nhiệm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương lên Tổng thống nước Cộng hoà Angola Giô-sê Ê-đu-ác-đô Đốt Xan-tốt (Jose Eduardo Dos Santos). Sau lễ trình Thư Ủy nhiệm, Tổng thống Đốt Xan-tốt đã thân mật tiếp Đại sứ nước ta.
Nhận lời mời của Tổng thống Cộng hòa Ănggôla Hôxê Êđuácđô Đốt Santốt và Tổng thống Cộng hòa Môdămbích Ácmanđô Êmiliô Ghêbuda, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh sẽ thăm cấp Nhà nước Cộng hòa Ănggôla và Cộng hòa Môdămbích từ ngày 2 đến 6/4.
1. Khái quát:- Vị trí địa lý: CHTN Tanzania ở phía đông châu Phi, bao gồm phần lục địa và một số đảo trong đó quan trọng nhất là ba đảo Zanzibar, Pemba và Mafia. Tanzania có đường biên giới chung với Kenya, Uganda, Rwanda, Burundi, Cộng hòa dân chủ Công-gô, Dămbia, Malawi và Mô-dăm-bích, phía đông nhìn ra Ấn Độ Dương.
Phát biểu tại Diễn đàn kinh tế Việt Nam - Tandania ngày 6/9 tại Hà Nội, Thủ tướng Edward Lowassa kêu gọi các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, thành lập liên doanh với doanh nghiệp Tandania trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến nông sản, dệt may, du lịch và khí đốt tự nhiên.
Hà Nội (TTXVN 19/8/04) - Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phúc Thanh cho rằng Việt Nam và Ănggôla có thể trao đổi các kinh nghiệm về phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, và quân đội hai nước có thể hợp tác trên một số lĩnh vực.
Hà Nội (TTXVN) - Chủ tịch nước Trần Đức Lương khẳng định tình đoàn kết của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đối với nhân dân Ănggôla nói riêng và nhân dân châu Phi nói chung và cho rằng hai nước cần tiếp tục phát triển quan hệ hợp tác song phương.
Chiều 30/4, tại Hà Nội, trong phiên bế mạc kỳ họp lần thứ IV Ủy ban liên Chính phủ Việt Nam – Angola, thay mặt Chính phủ hai nước, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân và Ngài Joao Baptista Ngandajina, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Cộng hoà Angola đã ký kết Biên bản kỳ họp thứ IV,
Kết quả được cho là cơ bản nhất qua chuyến thăm 2 nước Angola và Mozambique của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh, đó là chúng ta đạt được khuôn khổ hợp tác với các nước châu Phi, tăng cường đoàn kết hữu nghị, hợp tác toàn diện bình đẳng, hỗ trợ nhau cùng phát triển…
Đại sứ Việt Nam tại Italia Nguyễn Văn Nam khẳng định quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa Việt Nam và Italia trong năm 2007 đã có những chuyển biến mới về chất rất quan trọng.
Trong bản báo cáo về chính sách đối ngoại đến năm 2020, Bộ Ngoại giao Italia khẳng định Việt Nam sẽ là một trong những cầu nối quan trọng tới châu Á trong chính sách đối ngoại đến năm 2020 của nước này.
Bộ trưởng Y tế Cộng hòa Angola Anastacio Ruben Sicato đã khẳng định như vậy với Phó Thủ tướng Phạm Gia Khiêm chiều nay 8/4, nhân dịp ông sang thăm và làm việc tại Việt Nam theo lời mời của Bộ trưởng Y tế Việt Nam Nguyễn Quốc Triệu.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.