Trước thông tin giá bán điện năm 2012 sẽ điều chỉnh tăng 4,6%, Bộ Tài chính chiều tối ngày 25/11 đã có Công văn số 16098/BTC-VP nói rõ về vấn đề này.
Cụ thể, theo Bộ Tài chính, thông tin này là không chính xác. Theo cơ quan này, việc tính toán giá thành và giá điện năm 2012 được căn cứ trên cơ sở một số thông số đầu vào cơ bản như: Giá than mới, giá dầu FO (Ma dút) và DO (diezen), giá khí...
Mặt khác, để cân bằng tài chính một phần cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), giảm dần khoản chi phí còn "treo lại" chưa tính hết vào giá bán điện từ năm 2010 thì cần phải phân bổ một phần các chi phí vào giá thành điện năm 2012 như: Phân bổ số lỗ sản xuất kinh doanh điện năm 2010 do phát điện giá cao; phân bổ chênh lệch tỷ giá tính đến 31/12/2010; phân bổ chi phí tiếp nhận lưới điện nông thôn từ 2010 trở về trước...
"Với các nguyên tắc tính toán như trên thì tổng chi phí sản xuất kinh doanh điện 2012 dự kiến sẽ tăng ở mức trên 10%. Về mức tăng giá bán điện cụ thể và thời điểm thực hiện sẽ do Thủ tướng Chính phủ quyết định, nhưng không cao hơn mức tăng 15,28% của lần điều chỉnh giá trước," Bộ Tài chính cho biết.
Bên cạnh đó, Bộ tài chính cũng công bố về kết quả kinh doanh xăng dầu của Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex) trong 3 năm 2008 đến hết 2010 và 6 tháng của năm 2011.
Cụ thể, trong các năm từ 2008 đến 2010, Petrolimex đều làm ăn có lãi; trong đó năm 2008 lãi 1.018 tỷ đồng, năm 2009 lãi 3.217 tỷ đồng và năm 2010 lãi 81 tỷ đồng (riêng năm này mặc dù kinh doanh từ xăng dầu bị lỗ 172 tỷ đồng, nhưng lãi từ các hoạt động khác lại được 486 tỷ đồng).
Theo báo cáo quyết toán 6 tháng năm 2011 của Petrolimex (gồm văn phòng Tổng công ty và 42 công ty công ty thành viên) kinh doanh xăng dầu lỗ 1.840 tỷ đồng, trong đó có hơn 516 tỷ đồng là do Petrolimex đã chi phí thù lao cho đại lý và tổng đại lý quá cao.
"Sau khi rà soát bước đầu về kết quả kinh doanh của Tổng công ty, Bộ Tài chính xét thấy nếu không có những nguyên nhân chủ quan như việc Tổng công ty chi trả thù lao cho đại lý, tổng đại lý vượt chi phí kinh doanh định mức theo quy định và nguyên nhân khách quan là tỷ giá ngoại tệ tăng thì kinh doanh xăng dầu không lỗ lớn như vậy," Bộ tài chính khẳng định.
Nguồn xăng dầu Petrolimex cung ứng cho thị trường nội địa từ đầu năm đến 15/9/2011 chủ yếu là nhập khẩu, chiếm 75,81% tổng khối lượng nhập khẩu và mua trong nước.
Tổng lượng ngoại tệ nhập xăng dầu của doanh nghiệp này phải vay (và có một phần mua) của ngân hàng để thanh toán cho nhà cung cấp xăng dầu nước ngoài từ đầu năm đến 15/9/2011 là 3.979 triệu USD, trong đó 6 tháng đầu năm là 2.974 triệu USD.
Với số ngoại tệ lớn như trên, nên sự biến động của tỷ giá ngoại tệ đã phát sinh chênh lệch tỷ giá ở nhiều thời điểm khác nhau (thời điểm vay, trả nợ và thanh toán cho nhà cung cấp), đặc biệt là đợt điều chỉnh tỷ giá của Ngân hàng nhà nước vào ngày 11/2/2011 với biên độ lớn (tăng 9,3%), tính ra bình quân trong 6 tháng đầu năm 2011 một USD nhập khẩu xăng dầu, lỗ chênh lệch tỷ giá bình quân là 485 VNĐ/USD. Vì vậy, trong 6 tháng đã làm phát sinh lỗ chênh lệch tỷ giá (sau khi đã bù trừ lãi chênh lệch tỷ giá) của Petrolimex là 1.425 tỷ đồng, chiếm 77,5% tổng số lỗ kinh doanh xăng dầu (tổng lỗ kinh doanh xăng dầu là: 1.840 tỷ đồng).
Tuy nhiên, ngoài nguyên khách quan như trên, theo Bộ Tài chính, không thể không nói tới nguyên nhân chủ quan là việc Petrolimex chi trả thù lao cho đại lý, tổng đại lý vượt chi phí kinh doanh định mức theo quy định (600 đồng/lít với xăng, diezen, dầu hỏa; 400 đồng/kg với madut), với tổng số tiền là trên 516 tỷ đồng.
Cuối cùng thì dự án Luật Quản lý, sử dụng vốn Nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh cũng đã được đưa vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa 13, cho dù mới chỉ ở chương trình chuẩn bị.
Đó là con số ước tính của Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) Trần Xuân Hòa, khi ông nói về nạn khai thác, vận chuyển than trái phép đang ngang nhiên diễn ra và ngày càng trở nên mãnh liệt hơn.
Hiện nay, Quốc hội đã phê chuẩn nhiệm vụ và mục tiêu kinh tế năm 2012, song đây mới chỉ là các con số mục tiêu, không phải là kịch bản hành động. Thực tế, chúng ta vẫn chưa có kịch bản hành động đi kèm để luận giải, luận chứng cho tính hợp lý của kịch bản mục tiêu.
Một số tập đoàn, tổng công ty khi thực hiện quyền mua cổ phần phát hành thêm hoặc tiếp tục góp vốn vào các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán nhưng không báo cáo Thủ tướng Chính phủ…
Chắc chắn và khá thuyết phục là nhận xét được nhiều vị đại biểu dành cho hai vị “tư lệnh” ngành nông nghiệp và tài chính, với ba vị còn lại là “thông cảm nhưng chưa yên tâm”.
Theo một báo cáo vừa được công bố bởi Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến ngày 20/11/2011, các nhà đầu tư nước ngoài đã giải ngân tổng cộng 10,05 tỷ USD từ đầu năm, tăng 1% so với cùng kỳ năm ngoái.
Tỷ trọng ngân hàng yếu kém hiện không quá 5% là thông tin từ Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình, khi ông trả lời chất vấn tại diễn đàn Quốc hội chiều 24/11.
Ngày 18/11, tại Hà Nội, Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải đã làm việc với Bộ Tài nguyên và Môi trường, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch năm 2011, xây dựng kế hoạch năm 2012 và kế hoạch 5 năm 2011-2015 của ngành.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.