Sóc Trăng là tỉnh ven biển ở hạ lưu sông Mê Công, có hơn 72 km bờ biển, nên phần lớn diện tích đất bị nhiễm phèn mặn, và thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai. Ðược sự giúp đỡ của Trung ương, Sóc Trăng tập trung đầu tư phát triển hệ thống thủy lợi, tạo nguồn tưới tiêu cho hàng trăm nghìn ha đất nông nghiệp, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương, nâng cao đời sống nhân dân.
Ðột phá khâu thủy lợi
Năm 1992, ngay sau khi tái lập tỉnh, Sóc Trăng quyết định đột phá tìm hướng đi lên. Trước hết là làm hệ thống thủy lợi. Sau trận triều cường tháng 9 năm 1992, các huyện ven biển của tỉnh bị thiệt hại nặng do nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng. Trong điều kiện thiếu thốn đủ thứ, nhất là về phương tiện kỹ thuật, vốn... tỉnh đã huy động lực lượng lớn dân công đào đắp 500 km đê sông, đê biển, xẻ kênh, khoanh vùng, làm thủy lợi nội đồng. Nhờ cách làm này, đồng ruộng Sóc Trăng từng bước được ngăn mặn, giữ ngọt, xổ phèn chống úng. Ðể đạt mục tiêu đưa ngành nông nghiệp phát triển toàn diện, những năm qua, Trung ương và tỉnh Sóc Trăng tiếp tục đầu tư hàng nghìn tỷ đồng xây dựng hệ thống thủy lợi trên địa bàn vừa bảo đảm tưới tiêu, chống lũ lụt gây ngập úng cho đồng ruộng, vừa nâng cao chất lượng giống cây trồng, vật nuôi và chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn. Chỉ tính riêng giai đoạn 2005 - 2009, nguồn vốn đầu tư cho thủy lợi lên gần 720 tỷ đồng, trong đó có nhiều công trình vốn đầu tư lớn như: Dự án Cù lao sông Hậu, Long Phú - Tiếp Nhựt, Ba Rinh - Tà Liêm, Quản Lộ - Phụng Hiệp... Hiện toàn tỉnh xây dựng được 1.029 cống ngăn mặn, 1.131 km kênh cấp I, 4.699 km kênh cấp II, 507 km đê bao ngăn mặn phục vụ sản xuất nông nghiệp. Hằng năm, các công trình thủy lợi không ngừng được đầu tư xây dựng, nâng cấp, sửa chữa nhằm đáp ứng yêu cầu về tưới tiêu cho sản xuất nông nghiệp, chống lũ, bảo vệ an toàn hệ thống đê và cung cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh cho người dân nông thôn. Các dự án thủy lợi trọng điểm được quy hoạch đúng hướng, phù hợp chuyển dịch cơ cấu sản xuất bền vững và mang tính đột phá đã khơi dậy các tiềm năng kinh tế nông nghiệp của tỉnh.
Nâng giá trị sản xuất nông nghiệp
Nhờ phát huy hiệu quả các công trình thủy lợi, đến nay toàn tỉnh đã ngăn mặn được gần 270 nghìn ha đất nông nghiệp; tạo nguồn tưới tiêu cho 410 nghìn ha diện tích canh tác nông nghiệp, trong đó diện tích trồng lúa 322 nghìn ha, màu và cây công nghiệp ngắn ngày 54 nghìn ha, cây ăn quả hơn 30 nghìn ha. Ngoài ra, còn cải tạo chua phèn, tăng vụ sản xuất từ một vụ lên hai, ba vụ lúa/năm với 30 nghìn ha ở các vùng trũng các huyện Mỹ Tú, Ngã Năm, Thạnh Trị; tạo nguồn nước và cải tạo môi trường phát triển nuôi trồng thủy sản nước ngọt, nước mặn cho hơn 68 nghìn ha ở các huyện Long Phú, Trần Ðề, Vĩnh Châu, Mỹ Xuyên. Mặt khác, nhờ chủ động nguồn nước tưới tiêu mà phần lớn đồng ruộng Sóc Trăng phát triển tốt, cho năng suất cao, bình quân 5,4 tấn lúa/ha/vụ. Nhiều mô hình sản xuất mới ở các huyện Mỹ Xuyên, Kế Sách đem lại hiệu quả kinh tế cao như: hai lúa - một màu, hai lúa - một thủy sản, ba lúa kết hợp với nuôi cá trên ruộng; một lúa chuyển sang nuôi thủy sản, đất vườn tạp được cải tạo trồng cây ăn trái có giá trị kinh tế cao. Hàng chục nghìn ha đất hoang thuộc khu vực cánh đồng Năn, Trung Bình, Lịch Hội Thượng, Liêu Tú đã được phục hóa đưa vào sản xuất nông nghiệp và nuôi tôm sú. Ðến nay, giá trị sản xuất đất nông nghiệp của tỉnh bình quân đạt khoảng 75 triệu đồng/ha/năm. Từ năm 2005 đến 2009, tổng sản lượng lúa của Sóc Trăng luôn đạt ở mức 1,6 đến 1,7 tấn/năm. Riêng năm 2010, chỉ tính sản lượng lúa vụ đông xuân và hè thu sớm đã đạt gần 1,3 triệu tấn, dự báo nhiều khả năng sản lượng lúa cả năm sẽ đạt 1,9 triệu tấn (vượt kế hoạch gần 200 nghìn tấn). Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sóc Trăng, đến nay 46.704 ha tôm sú được thả nuôi trong toàn tỉnh đã thu hoạch hơn 6.000 ha, đạt lợi nhuận khá cao. Hiện nay, người nuôi tôm rất phấn khởi vì tiêu thụ được tôm nguyên liệu, nếu không có sự đột biến mạnh về giá tôm lúc thu hoạch rộ, hiệu quả vụ nuôi sẽ rất cao.
Chủ tịch UBND huyện Mỹ Xuyên Lương Minh Quyết cho biết: Trước đây, vùng nước lợ Mỹ Xuyên mỗi năm chỉ trồng được một vụ lúa mùa, năng suất thấp, cho nên đời sống nông dân gặp khó khăn. Những năm qua, được sự đầu tư của các chương trình, dự án thủy lợi, Thạnh Mỹ đã phá thế độc canh cây lúa. Vật nuôi được lựa chọn là tôm sú, bằng mô hình một vụ lúa - một vụ tôm. Từ diện tích vài trăm ha đến nay cây lúa đã được nông dân nuôi tôm trồng lấp vụ 11.170 ha. Với năng suất lúa cao sản ST bình quân 5 tấn/ha, giá bán luôn ở mức cao 5.000 đồng/kg. Việc trồng lúa lấp vụ sau một vụ nuôi tôm ở Mỹ Xuyên làm giảm đáng kể diện tích nuôi tôm bị thiệt hại, góp phần nâng cao đời sống người dân. Tại các xã Gia Hòa 1, Ngọc Ðông, Tham Ðôn, Hòa Tú 2... trước đây là vùng quê nghèo khó thì nay trở thành một trong những địa chỉ nuôi tôm kết hợp trồng lúa hiệu quả nhất của huyện.
Hệ thống thủy lợi ven Biển Ðông ở vùng giồng cát huyện Vĩnh Châu, ngoài việc bảo đảm nguồn nước tưới cho bốn nghìn ha hành tím, hằng năm mang lại giá trị bình quân 500 tỷ đồng (tương đương 20 nghìn ha trồng lúa), còn góp phần cải tạo môi trường, đưa nước mặn vào các ao nuôi trồng thủy sản. Nhờ thủy lợi mà các địa phương đã chuyển 25.400 ha trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi tôm sú, với tổng sản lượng đạt bình quân 37 nghìn tấn/năm. Giá trị sản xuất thủy sản đạt 2.826 tỷ đồng, chiếm hơn 90% giá trị sản xuất của toàn ngành nông nghiệp tỉnh. Không chỉ mở rộng về diện tích, nghề nuôi tôm ở Vĩnh Châu còn phát triển cả về quy mô, với 1.300 ha nuôi thâm canh, 13.408 ha nuôi bán thâm canh, năng suất nuôi hằng năm đều tăng và đạt mức trung bình 1,45 tấn/ha vào năm 2009. Nhiều doanh nghiệp, trang trại, mô hình liên kết tổ, nhóm và hợp tác xã được hình thành. Công tác chuyển giao khoa học - kỹ thuật được thực hiện thường xuyên, giúp người nuôi đạt năng suất, hiệu quả và phát triển nghề nuôi tôm một cách ổn định, bền vững. Chỉ với hai đối tượng chủ lực là cây hành tím và nuôi tôm sú đã góp phần đáng kể vào sự tăng trưởng kinh tế của Vĩnh Châu, với tốc độ tăng trưởng bình quân 15,29% (2005 - 2010).
Những hạn chế cần khắc phục
Chi Cục trưởng Chi cục Thủy lợi Sóc Trăng Dương Quốc Việt khẳng định: Kết quả đầu tư cho thủy lợi trong những năm qua đã góp phần tích cực vào phát triển kinh tế nông nghiệp và phòng, chống lụt, bão ở địa phương, nhất là phục vụ tốt yêu cầu chuyển dịch cơ cấu sản xuất thích ứng với cơ chế thị trường bền vững. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hệ thống thủy lợi trong tỉnh còn nhiều hạn chế, như chưa bảo đảm đủ nguồn nước tưới cho lúa, màu, nuôi trồng thủy sản và các loại cây trồng khác. Ðến nay, hệ thống thủy lợi chỉ ở mức ngăn mặn, tạo nguồn tưới tiêu ở những vùng sản xuất trọng điểm. Trong khi nhiều công trình thủy lợi xây dựng từ lâu nay đã xuống cấp, không bảo đảm đủ nguồn nước cũng như chưa ổn định ngăn mặn, nhất là một số vùng phía nam dự án Kế Sách, Quản Lộ - Phụng Hiệp. Mặt khác, tình hình thời tiết mấy năm gần đây có những biến động thất thường làm ảnh hưởng đến các công trình tưới tiêu, các công trình phòng, chống lũ. Vụ hè thu năm nay, do hạn hán kéo dài, các hệ thống kênh mương lớn trên địa bàn gần như cạn kiệt nguồn nước, phải nạo vét, đào đắp thủy lợi nội đồng dẫn nước ngọt vào ruộng cứu lúa; vì thế làm tăng thêm chi phí sản xuất của nông dân. Khả năng phòng, chống thiên tai của hệ thống đê, bờ bao còn nhiều hạn chế, nhất là khu vực các huyện Cù Lao Dung, Vĩnh Châu, Long Phú và Kế Sách.
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Sóc Trăng Hồ Quang Cua cho biết: Mục tiêu cơ bản đến năm 2015 là ổn định ngăn mặn cho 270 nghìn ha đất sản xuất nông nghiệp. Trong đó có 165 nghìn ha đất trồng lúa, tạo nguồn tưới tiêu ổn định cho 410 nghìn ha diện tích gieo trồng, chủ yếu là hai vụ lúa chính là hè thu và đông xuân. Cải tạo tốt vùng trũng, phèn để ổn định sản xuất hai vụ lúa gần 30 nghìn ha ở các huyện Mỹ Tú, Thạnh Trị, Ngã Năm. Phấn đấu đạt tổng sản lượng lúa từ 1,6 triệu tấn/năm trở lên. Bảo đảm đủ nguồn nước phục vụ nuôi trồng thủy sản cho 68 nghìn ha, tập trung chủ yếu huyện Vĩnh Châu, Trần Ðề, Mỹ Xuyên. Góp phần tích cực vào việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất, phát triển kinh tế nông nghiệp toàn diện phục vụ cho tiêu dùng và xuất khẩu, nâng cao đời sống nhân dân. Ðồng thời, nâng cấp hoàn chỉnh hệ thống đê biển, đê cửa sông, đê bao các cồn Cù lao sông Hậu dài 84 km (cồn Phong Nẫm, Mỹ Phước, An Tấn, An Công, Lý Quyên...), nhằm nâng cao năng lực phòng, chống lụt bão và giảm nhẹ thiên tai, đối phó với tình hình diễn biến khí hậu thất thường và nước biển dâng.
Ðể đạt mục tiêu đề ra, tỉnh Sóc Trăng đề ra một số giải pháp cụ thể: Trước hết, tiếp tục đầu tư cho thủy lợi, coi đây là biện pháp hàng đầu có ý nghĩa quyết định lâu dài trong sản xuất nông nghiệp và phòng, chống lụt bão, giảm nhẹ thiên tai. Nhanh chóng nâng cấp một số công trình đang xuống cấp, tiếp tục đầu tư ổn định ngọt hóa cho năm vùng dự án, gồm: Dự án Kế Sách, Long Phú - Tiếp Nhựt, Ba Rinh - Tà Liêm, Quản Lộ - Phụng Hiệp, Cù lao sông Hậu. Ðầu tư xây mới các công trình thủy lợi, bảo đảm cung cấp đủ nguồn nước, cải tạo môi trường cho hai vùng nuôi trồng thủy sản trọng điểm của tỉnh: Dự án Ven Biển Ðông (Vĩnh Châu), Thạnh Mỹ (Mỹ Xuyên).
Hội Kiến trúc sư Việt Nam vừa chính thức có văn bản gửi Văn phòng Trung ương Đảng, góp ý về đồ án Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050.
Dưới cái nhìn cục bộ, cơn sốt đất Ba Vì vừa qua ít nhiều đã mang lại những lợi ích nhất định cho một bộ phận người dân nơi đây, cho dù sẽ có không ít nhà đầu tư “ngậm trái đắng”.
Từng giữ chức Bộ trưởng Bộ Năng lượng và hiện đảm nhiệm vị trí Phái viên của Thủ tướng Chính phủ về các dự án điện, ông Thái Phụng Nê cho rằng, chỉ lấy “điện nuôi điện”, mới phát triển bền vững.
Trao đổi với ông Đỗ Viết Chiến, Phó cục trưởng Cục Phát triển đô thị (Bộ Xây dựng) xung quanh việc Chính phủ vừa yêu cầu UBND TP. Hà Nội chủ trì, phối hợp với các bộ hữu quan xây dựng danh mục các cơ sở y tế, giáo dục và đào tạo cần di dời ra ngoài trung tâm Thủ đô và báo cáo Thủ tướng Chính phủ trong tháng 10/2010.
Đại diện của JETRO cho rằng, dù cam kết mở cửa thị trường bán lẻ đã được thực thi từ ngày 1/1/2009, nhưng trên thực tế, các dự án về trung tâm thương mại, các chuỗi bán lẻ với 100% vốn đầu tư nước ngoài vẫn gặp nhiều khó khăn khi gia nhập thị trường.
Một công nghệ làm sạch nước sông Tô Lịch bằng dung dịch (không dùng hóa chất) đang được Công ty Cổ phần Công nghệ thương mại Huệ Quang (Viện nghiên cứu Hỗ trợ phát triển nông thôn) đề xuất với UBND thành phố Hà Nội.
Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo vừa ra Quyết định chính thức đặt tên cho 43 tuyến đường, phố mới và 4 công trình công cộng trên địa bàn thành phố.
Phó giám đốc đầu tư công ty cổ phần Đầu tư phát triển hạ tầng kỹ thuật TP.HCM (CII) Dương Quang Châu vừa cho biết: Ngày 5/9 sẽ tiến hành thu phí giao thông qua cầu Bình Triệu 2. Mức phí này sẽ được thu theo chiều giao thông từ Q.Thủ Đức vào Q.Bình Thạnh.
Kết quả cuộc họp do Cục Thú y tổ chức với các chi cục thuộc Trung tâm Thú y vùng 6 cho thấy, ở các tỉnh phía Nam, dịch heo tai xanh đang ở giai đoạn cao trào, tiếp tục lây lan, đến ngày 25-8 đã có 27 tỉnh thành công bố dịch. Khu vực chưa có dịch là Trà Vinh, Ninh Thuận, Bình Thuận và TPHCM (đã kịp thời phát hiện và tiêu hủy số heo có virus heo tai xanh, không để lây lan). Dự báo, đến cuối tháng 9, “cơn bão” heo tai xanh mới lắng dịu.
Phó thủ tướng Hoàng Trung Hải vừa yêu cầu thành phố Hà Nội trong tháng 10 tới phải hoàn thành danh mục các cơ sở y tế, giáo dục đào tạo cần di dời ra ngoại thành.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.