Sóng gió một lần nữa lại nổi lên trong quan hệ giữa cục Điều tiết điện lực (ĐTĐL, tên giao dịch là ERAVE) và tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Tại cuộc họp giao ban sản xuất đầu tuần tại bộ Công thương, cục trưởng cục ĐTĐL lên tiếng buộc tội EVN đã không chấp hành nghiêm túc chế độ thông tin báo cáo về tình hình cung ứng điện, gây nhiều khó khăn cho việc điều tiết thị trường điện lực, vốn thuộc chức năng của cơ quan này.
Ông Phạm Mạnh Thắng, cục trưởng cục ĐTĐL phản ánh, trong tháng 4, do cung ứng không đủ điện theo nhu cầu, EVN đã phải cắt điện ở nhiều nơi. Bộ Công thương đã yêu cầu EVN phê duyệt kế hoạch tiết giảm của từng tổng công ty, từng tỉnh và giám sát việc thực hiện nhưng cho đến ngày 11.4, cục ĐTĐL không nhận được bất kỳ báo cáo nào của EVN. “Chính vì thế, chúng tôi không thể đánh giá nổi việc thực hiện như thế nào mà chỉ nắm thông tin qua phương tiện thông tin đại chúng (về tình hình cắt điện)”, ông Thắng nói.
Những lý giải của EVN về việc cắt giảm điện thực tế có nhiều thông tin sai sự thật. Theo thống kê riêng của cục ĐTĐL thì việc cắt giảm điện tại một số địa phương như Bình Dương, Long An, Bà Rịa – Vũng Tàu… không phải 6% như EVN công bố. Ví dụ ở Bình Dương, lượng điện cắt giảm lên đến 18 – 20% và 2 ngày/tuần, hầu hết là cắt giảm điện sinh hoạt. Điện sinh hoạt nông thôn bị cắt nhiều nhất, gần như 7 ngày/tuần. Trong khi cục ĐTĐL không nhận được báo cáo từ EVN thì báo chí lại nhận được thông cáo từ tập đoàn này, trong đó khẳng định: “Trong tháng 4, EVN đã cơ bản đáp ứng đủ điện cho sản xuất”. Nhưng thực tế, ngay tại cuộc họp của bộ Công thương đầu tuần này, hầu hết các doanh nghiệp đứng lên phát biểu đều tỏ ra lo lắng về tình trạng cắt điện cho sản xuất gây thiệt hại lớn: tổng công ty Thép cho biết, các doanh nghiệp thép bị cắt trung bình 8 ngày/tháng; có doanh nghiệp da giày phản ánh bị cắt điện 3 ngày/tuần, ở Bình Dương phổ biến 2 ngày/tuần…
Việc cắt giảm điện của EVN không đúng theo yêu cầu của Chính phủ (đảm bảo đủ điện cho sản xuất) mà theo chủ ý của ngành này muốn giảm lỗ. Nếu EVN phát huy tốt hơn công suất các nhà máy, tổ máy chạy dầu như đã làm trong tháng 3 thì theo ông Phạm Mạnh Thắng, việc cắt điện sẽ giảm đi rất nhiều (tháng 4, chỉ phát 2,3 triệu kWh/ngày trong khi tháng 3 phát 18 triệu kWh/ngày). Nhưng vì nguồn điện chạy dầu giá thành cao (4.000 – 5.000 đồng/kWh) nên tập đoàn này đã lựa chọn cách giảm cung cấp điện để bớt lỗ cho ngành. Và có lẽ, một phần chính vì điều này, EVN không báo cáo cho cục ĐTĐL.
Nếu EVN phát huy tốt hơn công suất các nhà máy, tổ máy chạy dầu như đã làm trong tháng 3, việc cắt điện sẽ giảm đi rất nhiều
Cục trưởng cục Điều tiết điện lực Phạm Mạnh Thắng
Việc không hoặc chậm nộp thông tin, báo cáo cho cơ quan quản lý cấp trên là hiện tượng đang xảy ra phổ biến ở một số ngành hiện nay. Nhưng trong quan hệ giữa EVN và cục ĐTĐL, còn có một câu chuyện khác. Lâu nay, EVN là một doanh nghiệp có vị thế độc quyền gần như toàn bộ, từ khâu lập quy hoạch đến khâu phân phối, truyền tải điện… Nhưng trong những năm gần đây, với sự xuất hiện nhiều hơn các nhà đầu tư vào nguồn điện: tập đoàn Dầu khí, tập đoàn Than – khoáng sản, tổng công ty Sông Đà, các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước… EVN không còn độc quyền hoàn toàn trong sản xuất điện. Nhưng là doanh nghiệp nắm giữ toàn bộ hệ thống phân phối, truyền tải, điều độ hệ thống điện, sự độc quyền của EVN (trong khi nguồn lực của tập đoàn này còn hạn chế) vẫn tạo ra những rào cản rất lớn cho việc tham gia thị trường cung ứng điện từ của nhà đầu tư khác. Do đó, việc ra đời cục ĐTĐL, thuộc bộ Công thương là nhằm hạn chế bớt vai trò độc quyền đó. Một số việc trước đây do EVN thực hiện, nay được tách ra, giao cho cục ĐTĐL như: điều tiết hoạt động điện lực để đảm bảo cung ứng điện an toàn, ổn định; xây dựng, trình Chính phủ giá, biểu giá bán lẻ điện; quy định điều kiện, thủ tục, quản lý giấy phép hoạt động điện lực, ban hành các loại giá, phí về khung phát điện, bán buôn điện, giá truyền tải, phân phối điện… Đây là hướng đi đúng để xây dựng thị trường điện cạnh tranh.
Cục ĐTĐL bước đầu đã thực hiện tốt các vai trò trên. Năm 2009, cục này còn trình Chính phủ đề án “tái cơ cấu ngành điện” trong đó chia tách các doanh nghiệp sản xuất, tách hệ thống điều độ điện quốc gia… khỏi EVN. EVN vào thời điểm đó đã phản ứng rất dữ dội với các lý lẽ như: đề án đó sẽ làm suy yếu EVN, các công ty bị chia tách chưa đủ uy tín vay vốn, không có bộ máy chỉ đạo mạnh… sẽ không đảm bảo tiến độ đầu tư… Đáng tiếc là đến nay, đề án trên chưa được phê duyệt trong khi EVN lại đã dần củng cố thêm vị thế độc quyền với việc thành lập hàng loạt tổng công ty trực thuộc, chuyên về sản xuất, truyền tải, phân phối điện...
Nhìn lại cả quá trình như vậy, người ta không thể không đặt ra câu hỏi: phải chăng EVN thiếu nghiêm túc trong việc chấp hành chế độ thông tin, báo cáo như quy định là nhằm che giấu khuyết điểm trong việc tổ chức huy động, cung ứng điện cho sản xuất, sinh hoạt để tiếp tục duy trì độc quyền của mình? Từ đó mới thấy, việc không đẩy nhanh quá trình tái cơ cấu EVN, để cho tập đoàn này tiếp tục bám giữ vai trò độc quyền trong tất cả các khâu: phân phối, truyền tải, cung ứng điện… sẽ còn gây ra nhiều hệ quả.
Hội nghị Viễn thông Quốc tế Việt Nam 2010 với chủ đề “Hiện thực hóa xã hội kết nối băng rộng tại Việt Nam” được tổ chức tại Hà Nội dưới sự bảo trợ của Bộ TT&TT, Viện Chiến lược TT&TT cùng Công ty tổ chức sự kiện Beacon.
Qua khảo sát nhu cầu sử dụng nhà ở công vụ đến năm 2015, Bộ Xây dựng vừa đề xuất xây 262 biệt thự, chung cư công vụ phục vụ chung cho cấp thứ trưởng và tương đương của các cơ quan trung ương tại Hà Nội.
Từ tháng 8 đến tháng 10 năm nay, Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA) và Bộ Tài chính sẽ tiến hành kiểm tra hoạt động của khoảng 20 công ty kiểm toán (CTKT). Trả lời phỏng vấn ĐTTC, ông BÙI VĂN MAI, Phó Chủ tịch thường trực VACPA, cho biết chi tiết về cuộc kiểm tra này.
Liên bộ Tài chính - Công Thương cho biết, để kìm giá bán lẻ xăng dầu trong nước, Chính phủ đã chi khoảng 2.000 tỷ đồng từ Quỹ Bình ổn giá để tháo gỡ khó khăn cho DN.
Mặc dù là một cường quốc về xuất khẩu nông sản nhưng trong 4 tháng đầu năm 2010, Việt Nam đã phải nhập khẩu 4,65 tỉ đô la Mỹ hàng nông lâm sản, tăng 80% so với cùng kỳ năm ngoái.
Thủ tục nhiêu khê trong lĩnh vực xây dựng là nỗi ám ảnh của người dân và các doanh nghiệp mà ĐTTC đã phản ánh nhiều lần. Mới đây Bộ Xây dựng có báo cáo kết quả giai đoạn 2 rà soát thủ tục hành chính (TTHC) thuộc phạm vi chức năng của Bộ. Theo đó, tỷ lệ đơn giản hóa các TTHC lên đến 95,8%, đồng nghĩa với việc mỗi năm tiết kiệm được hơn 2.415 tỷ đồng của Nhà nước và nhân dân. Vậy, thực sự “ma trận” TTHC trong lĩnh vực xây dựng đã được hóa giải?
Bộ Công Thương đang cùng các bộ, ngành liên quan thực hiện một số biện pháp kiềm chế nhập siêu nhằm giảm dần thâm hụt thương mại, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.
Dự thảo thứ 2 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 được xây dựng trên 3 trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường, với mục tiêu tăng trưởng bình quân 7,5 – 8,5%/năm.
"Bộ Nội vụ, Bộ Công Thương đã không làm đầy đủ trách nhiệm khi phê duyệt Điều lệ của Hiệp hội Lương thực Việt Nam", Trưởng ban Dân nguyện của Quốc hội, ông Trần Thế Vượng cho biết.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.