Việc các tập đoàn dùng uy tín, nguồn lực của nhà nước để đầu tư vào những ngành, lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể làm được làm giảm cơ hội và hạn chế sự phát triển của khu vực tư nhân.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong một báo cáo mới đây trình Chính phủ về thực trạng của các tập đoàn kinh tế nhà nước, đã nhận định: “Hầu hết các tập đoàn kinh tế nhà nước đều kinh doanh có lãi. Tuy nhiên, để đánh giá được chính xác hiệu quả sản xuất - kinh doanh của tập đoàn còn nhiều vấn đề đặt ra”.
Nhiều vấn đề đặt ra đó, theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, mặc dù có 8 tập đoàn kinh tế nhà nước thí điểm đợt đầu tiên đã hoạt động từ 4-5 năm nay và sau đó, từ cuối năm 2009 đến đầu năm 2010, có thêm 4 tập đoàn kinh tế nhà nước nữa được thành lập và hoạt động hầu hết trong những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, nhưng cho đến nay vẫn chưa hình thành được cơ sở thông tin, dữ liệu có tính hệ thống, đầy đủ, cập nhật, sát thực, có thể sử dụng để phân tích, đánh giá về kết quả và hiệu quả của tập đoàn kinh tế nhà nước.
“Thực tế, ngoài hoạt động kinh doanh, các tập đoàn kinh tế nhà nước còn thực hiện các nhiệm vụ chính trị, công ích (như điều tiết, bình ổn giá cả, đảm bảo các cân đối lớn...) nhưng cho đến nay vẫn chưa có phương thức tính toán lượng hoá chi phí để bù đắp hoặc đánh giá kết quả, tác động với tập đoàn kinh tế nhà nước khi thực hiện các nhiệm vụ này. Chính những lý do này đã dẫn đến những cách đánh giá khác nhau về hiệu quả thực của tập đoàn kinh tế nhà nước hoặc tạo cớ để biện minh cho sự kém hiệu quả của tập đoàn kinh tế nhà nước”, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá.
“Khôn nhà dại chợ”
Không nói thẳng rằng hoạt động của các tập đoàn kinh tế nhà nước rất đặc thù bởi phong cách “khôn nhà dại chợ” nhưng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chứng minh rất rõ thực tế này. Đó là sự chèn ép, bành trướng các khu vực kinh tế khác trong nước, nhưng lại rất rụt rè trên thị trường các nước trong khu vực và thế giới.
Nếu nhìn vào tỷ trọng đầu tư ra ngoài ngành, lĩnh vực kinh doanh chính của tập đoàn so với vốn chủ sở hữu thì tỷ lệ đầu tư ra ngoài ngành, lĩnh vực kinh doanh chính vẫn nằm trong phạm vi cho phép. Tuy nhiên, nếu nhìn vào lĩnh vực đầu tư và con số tuyệt đối thì giá trị đầu tư rất lớn và bộ này nhấn mạnh “cần phải xem xét lại”. Lĩnh vực đầu tư chủ yếu là tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bất động sản, quỹ đầu tư.
Như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) có tổng đầu tư ngoài ngành là 2.107,254 tỷ đồng, nhưng chỉ có 5 tỷ đồng đầu tư vào các ngành khác, còn lại hơn 2.100 tỷ đồng đầu tư vào bảo hiểm, chứng khoán, ngân hàng, bất động sản, quỹ đầu tư (chiếm 99,8%). Việc các tập đoàn dùng uy tín, nguồn lực của nhà nước để đầu tư vào những ngành, lĩnh vực mà khu vực tư nhân có thể làm được làm giảm cơ hội và hạn chế sự phát triển của khu vực tư nhân.
Ngoài ra, do hầu hết các tập đoàn kinh tế nhà nước kinh doanh đa ngành với mong muốn đầu tư, thực hiện tất cả các khâu của quá trình sản xuất - kinh doanh (tạo thành chuỗi sản xuất khép kín trong tập đoàn) nên các doanh nghiệp khác khó lòng mà chen chân vào được, đồng nghĩa với việc hình thành chuỗi giá trị gia tăng và làm đầu tầu hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, là rất hạn chế.
Trong khi đó, đánh giá một cách tổng thể thì thị phần của các tập đoàn kinh tế nhà nước trên thị trường các nước trong khu vực và thế giới vẫn rất nhỏ bé, không đáng kể.
Muốn vào một mối - Chính phủ
Phản ứng trước những “mũi nhọn”, không ít lãnh đạo tập đoàn kinh tế nhà nước đã muốn ngã hẳn “vào lòng” Chính phủ, đồng thời đòi tự do hơn nữa cho mình.
Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tập đoàn Phát triển nhà và đô thị (HUD) Nguyễn Đăng Nam phàn nàn về việc phân công, phân cấp thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với tập đoàn rằng: “Hiện nay Thủ tướng uỷ quyền thực hiện quyền chức năng đại diện chủ sở hữu cho nhiều Bộ, mỗi bộ một lĩnh vực, do vậy, khi tập đoàn trình các vấn đề thuộc thẩm quyền của chủ sở hữu phải lấy ý kiến của các bộ, phải giải trình nhiều đầu mối (như việc phê duyệt tăng vốn điều lệ phải lấy ý kiến của 3 bộ để trình chủ sở hữu quyết định, như thực tế của chúng tôi, quy trình này kéo dài hơn 6 tháng), khiến cho tiến độ hoạt động sản xuất kinh doanh bị chậm trễ, lỡ cơ hội, làm mất đi quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”.
Ông Nam kiến nghị: “Hướng quản lý tốt nhất để quản lý sâu sát các tập đoàn kinh tế nhà nước là nên thành lập một bộ phận thuộc Văn phòng Chính phủ quản lý các tập đoàn, chịu trách nhiệm thẩm định toàn diện những vấn đề tập đoàn trình Thủ tướng; đồng thời với việc này là uỷ quyền cho Hội đồng thành viên chủ động trong sản xuất kinh doanh của toàn tập đoàn, chịu trách nhiệm hoàn toàn với những quyết định của mình”.
Song, không chỉ tập đoàn kinh tế nhà nước muốn vậy, mà bản thân bộ chủ quản cũng muốn “tháo gông” cho họ. Như tại một bộ quản lý nhiều tập đoàn kinh tế nhà nước nhất là Bộ Công Thương, cũng kiến nghị Chính phủ: “Sớm ban hành quy định về chủ sở hữu, về đại diện chủ sở hữu, về cơ chế giám sát, kiểm soát, về chức năng quản lý giữa các bộ, ngành để tránh có quá nhiều chủ sở hữu trong một tập đoàn kinh tế nhà nước như hiện nay”.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, với cách tiếp cận căn cứ vào hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu và hiệu quả kinh doanh hiện nay của các tập đoàn kinh tế nhà nước thì có thể thấy rằng EVN đang có nguy cơ rủi ro ở mức cao. Rủi ro ở mức trung bình là các tập đoàn thuộc khối xây dưng và kinh doanh bất động sản. Mức quy định về sự an toàn của hệ số vốn các tập đoàn kinh tế nhà nước là dưới 3 lần, nhưng EVN có hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu là 4,25.
Ngày 10/1, Bộ Giao thông Vận tải đã phát đi bản thông cáo báo chí giải thích những lý do dẫn đến đề xuất áp dụng hai loại phí lưu hành phương tiện giao thông cá nhân đường bộ và phí ôtô đi vào trung tâm thành phố giờ cao điểm.
Trên con đường tái cấu trúc, các tổ chức tín dụng không đi một mình. Chính phủ đã giao Bộ Tài chính xây dựng Đề án tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và yêu cầu thực hiện ngay từ đầu năm 2012 này.
Hội thảo chuyên đề về đề xuất “Hạch toán có lãi cho hàng không quốc gia Việt Nam theo phương pháp Trần Đình Bá” do Bộ Giao thông Vận tải tổ chức chiều 13/2 tại Hà Nội đã kết thúc mà không đưa tới một kết luận chính thức nào.
Tuy không phải là nội dung chính thức của hội thảo khoa học trao đổi kinh nghiệm về tái cấu trúc các tập đoàn tài chính do Bộ Tài chính tổ chức ngày 14-2 tại Hà Nội nhưng nội dung liên quan đến cắt giảm chi phí doanh nghiệp lại là vấn đề làm nóng diễn đàn.
Quan điểm cá nhân và của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước đề xuất của Bộ Giao thông Vận tải về việc thu phí lưu hành phương tiện giao thông cá nhân vào trung tâm thành phố giờ cao điểm là câu hỏi...
Bộ Công Thương vừa phê duyệt kế hoạch cung cấp điện và vận hành hệ thống điện năm 2012. Theo đó, tổng sản lượng điện sản xuất của các nhà máy điện và nhập khẩu của toàn quốc năm 2012 là 120,795 tỉ kWh, tăng 10,89% so với năm 2011...
Trước sự bức xúc của người dân về xăng dầu kém chất lượng, pha tạp chất thời gian qua, trong buổi đối thoại trực tuyến chiều 6/1, Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng đã nhận một phần trách nhiệm khi để xảy ra tình trạng này.
Nhằm khuyến khích người cận nghèo tham gia BHYT, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (BHXHVN) vừa đề xuất tăng mức hỗ trợ đóng BHYT cho người cận nghèo từ mức 50% hiện nay lên 70%.
Thông tin từ Bộ GTVT ngày 30/12 cho biết Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã ký tờ trình số 8868/TTr-BGTVT trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết về việc bổ sung phí lưu hành...
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Y tế là 4 bộ nằm cuối bảng xếp hạng theo thứ tự từ dưới lên về xây dựng và thi thành luật pháp.
Đến năm 2020 các cơ sở chế biến khoáng sản manh mún, công nghệ lạc hậu, hiệu quả kinh tế thấp, gây ô nhiễm môi trường sẽ bị xoá sổ, theo “Chiến lược khoáng sản đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” vừa được Thủ tướng phê duyệt.
Thống kê sơ bộ của ngành thuế cho thấy, trong khi lợi nhuận sau thuế của các doanh nghiệp dân doanh chỉ khoảng 75 nghìn tỷ đồng, số lãi vay trả ngân hàng đã lên tới hơn 200 nghìn tỷ đồng.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.