Việt Nam phải làm lại, tư duy lại để hợp với xu hướng chung của thời đại và tư duy toàn cầu. Chúng ta không thể một mình một kiểu, thậm chí đi ngược chiều thế giới.
Tăng giá điện là chuyện khó tránh khỏi nhưng phải xuất phát từ tư duy chiến lược mới. Nếu cứ tư duy ở tầm vĩ mô như lâu nay thì những vấn nạn sẽ liên tục xảy ra, chưa hết khốn khổ vì cúp điện đã thấy tăng giá… Phải có tư duy chiến lược mới vì thế giới đã thay đổi trước khủng hoảng năng lượng và biến đổi khí hậu toàn cầu, đang đối mặt với những cuộc xung đột vũ trang đã bùng phát hoặc đang âm ỷ.
Còn trong nước, tái cấu trúc nền kinh tế là yêu cầu cấp bách, sống còn để đất nước tiếp tục phát triển. Cộng thêm những diễn biến gần đây trong khu vực, khi tài nguyên năng lượng đang cạn kiệt, khi người ta đang đổ xô xây dựng hàng chục đập thủy điện trên sông Mêkông, đặt đồng bằng Nam Bộ trước nguy cơ tồn vong, bài toán an ninh năng lượng giờ đây đã trở thành an ninh quốc gia.
Ngược chiều thế giới
Trên bình diện thế giới, chúng ta đang đối mặt với khủng hoảng năng lượng song song với khủng hoảng biến đổi khí hậu toàn cầu, mà nguyên nhân của nó lại chính là sự phí phạm năng lượng trong hàng thế kỷ qua. Đáng tiếc, hai cuộc khủng hoảng này chưa hề ảnh hưởng đến tư duy vĩ mô của Việt Nam trong chính sách năng lượng.
Hơn 2 năm trước, trong diễn văn nhậm chức đầu tiên đọc trước Nghị viện Mỹ, Tổng thống Barack Obama đã nói cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu khởi đầu từ nước Mỹ có nguyên nhân sâu xa là do chúng ta phí phạm năng lượng. Trong chương trình tranh cử cũng như kế hoạch hành động của vị Tổng thống này, bài toán năng lượng được đặt ra như ưu tiên số một. Một Nobel Vật Lý được chọn làm Bộ trưởng Năng lượng cùng với một ngân sách lớn để thay đổi cơ cấu năng lượng, đặc biệt là đầu tư vào năng lượng tái tạo cùng một sô chủ trương mới nhằm phát triển điện hạt nhân mà không tạo thêm nguy cơ lan truyền vũ khí hạt nhân.
Trung Quốc, nước dẫn đầu thế giới về phát thải CO2 và đứng thứ hai về sử dụng điện năng, là một bằng chứng nữa. Nhận ra lãng phí điện năng là nguy cơ sống còn đối với nền kinh tế phát triển rất nóng của mình, trong kế hoạch 5 năm 2006 - 2010, Trung Quốc đã đặt chỉ tiêu nâng cao hiệu quả sử dụng điện năng lên 20%, đồng nghĩa với việc giảm lãng phí điện năng hàng năm xuống bớt 4%, một lượng điện khổng lồ, gấp đôi tiêu thụ hàng năm ở nước ta.
Ở Việt Nam, gần đây đã nói nhiều đến chống lãng phí điện, nhưng chủ yếu là nhà nước hô hào người dân tiết kiệm điện. Trong khi đó, chính nền kinh tế lại là thủ phạm lớn gây ra lãng phí điện.
Tăng GDP bằng mọi giá đã khiến khẩu hiệu "điện đi trước một bước" được sử dụng như tư tưởng chỉ đạo trong quy hoạch điện năng. Để tăng GDP thêm 1%, phần lớn các nước trên thế giới đều giữ tốc độ tăng điện năng không quá 1%, còn chúng ta là 2%, thậm chí nhiều hơn. Tình trạng này kéo dài hàng chục năm nay, giống như cỗ xe kinh tế có thùng xăng thủng đáy.
Trong một cuộc họp về quy hoạch điện năng được tường thuật trên VTV, lãnh đạo Chính phủ còn chỉ đạo, nếu tăng điện 15% (gấp đôi tăng GDP) không đủ thì ta phải tăng lên 20%, hoặc cao hơn. Thế là quy hoạch điện phải "điều chỉnh" lại. Vét kiệt nguồn lực cho nước ngoài hưởng lợi
Vấn nạn điện năng ở nước ta vẫn là do mất cân đối cung cầu. Cả cung lẫn cầu đều không nằm trên quỹ đạo tối ưu của chúng. Nếu tăng giá chỉ nhằm mục đích đuổi kịp mặt bằng giá trong khu vực, thu hút nhà đầu tư vào thị trường điện Việt Nam, tức là tiếp tục đẩy cung lên nữa mà quên mất giảm cầu do lãng phí điện. Hậu quả là mất cân đối cung cầu sẽ còn tăng lên, bởi đây vẫn là tư duy theo lối cũ.
Có thể không còn cách nào khác mà phải dùng cơ chế đàn hồi giá để giảm cầu do lãng phí điện chứ không phải tiếp tục tăng cung. Vậy trước hết phải xem ai lãng phí điện nhiều nhất. Chỉ có Bộ Kế hoạch - Đầu tư và EVN mới trả lời được câu hỏi này, nhưng vài con số thống kê hiếm hoi sau đây có thể cho ta một tia sáng le lói để từ đây lần ra manh mối.
Hiện nay điện thương phẩm ở nước ta thấp hơn điện sản xuất khoảng 13%, trong đó 10% là do thất thoát trong truyền tải và 3% do điện tự dùng ở nhà máy. Mức thất thoát kỹ thuật này còn có thể hạ xuống, song sẽ không nhiều, nên không thể xem là giải pháp chủ đạo để giảm lãng phí điện.
Điện thương phẩm lại được phân ra như sau:
* Công nghiệp và xây dựng: 51%
* Quản lý và tiêu dùng dân cư: 40%
* Thương nghiệp, khách sạn, nhà hàng: 5%
* Nông lâm nghiệp và thủy sản: 1%
* Các hoạt động khác: 3%.
Nhưng không phải địa phương nào cũng đều lãng phí điện như nhau. Trong hai năm 2008-2009, điện tiêu thụ ở TP.HCM chỉ tăng 7%/năm; Hải Dương 8,3%; Khánh Hòa 8,4%; Đồng Nai 9,4%/năm, và tình hình chắc cũng sáng sủa ở một số nơi khác nữa. Đây là những nơi tăng GDP mạnh, nhưng giữ được tốc độ tăng điện năng tương đối vừa phải, tiến gần đến xu thế chung của khu vực và trên thế giới. Trong khi đó, vì lý do gì trên cùng một đất nước mà Hà Nội lại tăng đến 16%/năm, Hải Phòng 15%, Đà Nẵng 15,8%, Ninh Bình 17%, Quảng Ninh 26,8%/năm...?
Sự khác biệt quá lớn về hiệu quả sử dụng điện giữa những địa phương nói trên, đặc biệt giữa Hà Nội và TP.HCM, là do đâu? Chắc không phải vì người Hà thành xài điện thoải mái hơn bà con Sài thành.
Rõ ràng những công trình đầu tư kém hiệu quả, sử dụng kỹ thuật lạc hậu là thủ phạm lãng phí điện lớn nhất ở nước ta. Đây chính là hậu quả do giá điện thấp. Giá điện của chúng ta thấp hơn nhiều nước trong khu vực. Cứ giữ giá thấp như thế, Chính phủ phải trợ giá cho các nhà đầu tư nước ngoài đẻ đổi lấy tăng trưởng GDP.
Rồi đây hàng năm chúng ta sẽ thừa vài chục triệu tấn thép để xuất khẩu sau khi các dự án thép khổng lồ do nước ngoài đầu tư đi vào hoạt động. Để có hai chục triệu tấn thép xuất khẩu cần có 10 tỷ kWh điện, hoặc hai nhà máy công suất 2000 MW. Chúng ta phải vét cạn kiệt nguồn lực của mình để mang lại lợi nhuận cho các công ty nước ngoài hay sao?
Không riêng gì đầu tư nước ngoài, nhiều dự án đầu tư trong nước kém hiệu quả, hoặc không đưa vào sử dụng, tốn xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, chắc chắn cũng là thủ phạm gây lãng phí điện.
Không thể duy trì mãi những xí nghiệp dùng kỹ thuật lỗi thời cho dù chúng sẽ giữ công ăn việc làm cho một số người. Phải dẹp chúng đi hoặc thay bằng các công nghệ tiên tiến hơn để cạnh tranh.
Bài toán nan giải này chỉ được giải quyết bằng cách tăng giá điện. Không thể để công nghiệp của ta núp dưới giá điện thấp để tiếp tục "cạnh tranh" với các nước khác.
Khối dân dụng phi công nghiệp, bao gồm người dân và cơ quan nhà nước, chiếm 40% điện tiêu thụ. Không đủ số liệu chi tiết hơn để xem ai lãng phí điện ở đây, song chắc chắn không phải người nghèo, mà là người giàu và cơ quan nhà nước xài điện bằng tiền chùa. Tăng giá điện cũng chính là "giải pháp" cho họ.
Kiến nghị
Từ những phân tích trên, tôi xin nêu ra mấy kiến nghị sau đây.
Tăng giá điện là điều khó tránh khỏi. Nhưng không phải tăng giá để bắt kịp các nước xung quanh (vì hộ có mức sống cao hơn), hoặc để thu hút đầu tư nước ngoài vào thị trường điện Việt Nam, mà mục đích chính là để tái cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng phù hợp với xu thế chung và tạo ra sức cạnh tranh trên thế giới.
Nghĩa là cần có một tư duy mới khác với lối tư duy một chiều lâu nay. Cần tính toán các bước đi hợp lý để tránh gây ra xáo trộn bất lợi.
Cụ thể, khi tăng giá điện phải nới rộng hơn nữa khoảng cách giữa điện cho sản xuất kinh doanh và điện cho dân dụng, đừng để giá điện thấp hiện nay của chúng ta tạo điều kiện duy trì các công nghệ lỗi thời, tiêu tốn năng lượng.
Lộ trình tăng giá điện cho khối sản xuất có thể phải đi trước khôi dân dụng.
Giá điện cho cơ quan nhà nước phải tách khỏi khối hộ dân.
Đối với hộ dân, cơ cấu giá điện lũy tiến bậc thang chẳng những phải duy trì mà còn giãn rộng hơn nữa khoảng cách giàu nghèo để người nghèo ít bị tác động nhất.
Ngành điện với mối lo phụ thuộc nước ngoài
Không giải quyết được bài toán năng lượng trên tầm nhìn lớn, dài hạn, Việt Nam không giải quyết được bài toán an ninh năng lượng, nhất là khi yếu tố nước ngoài đang tăng.
Hiện nay, phần lớn các dự án nhà máy điện chạy than của Việt Nam, Trung Quốc thắng thầu. Việc thiếu điện vừa qua phần lớn là do các nhà máy này không đi vào hoạt động đúng tiến độ. Như vậy, Việt Nam không đảm bảo được an ninh năng lượng, phụ thuộc bên ngoài.
Các nhà máy thủy điện dọc sông Mekong cũng là một vấn đề. Một loạt các đập thủy điện được dựng lên suốt dọc sông, trải qua nhiều quốc gia. Không dàn xếp được với các nước, Việt Nam, nước hạ nguồn sẽ lĩnh đủ hậu quả.
Một khi không giải được các bài toán này, an ninh năng lượng sẽ trở thành an ninh quốc gia.
Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng khẳng định thời gian tới sẽ không cấp phép cho các dự án nhà máy thép ngoài quy hoạch và sử dụng công nghệ lạc hậu.
Bộ Công Thương vừa ra chỉ thị tăng cường sử dụng máy móc, thiết bị, vật tư, nguyên liệu trong nước sản xuất được trong công tác đấu thầu, để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước được tham gia đấu thầu, cung ứng.
Ngày 8/9, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đã công bố “Báo cáo đánh giá chất lượng hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật của các Bộ liên quan tới doanh nghiệp (LDEA) giai đoạn 2005- 2009”.
Trung tâm sử dụng những bí quyết và công nghệ tiên tiến để lồng ghép các nguyên lý và định luật nổi tiếng của khoa học vào các hoạt động vui chơi đa dạng cho trẻ em.
Quy hoạch nhân lực của các bộ, ngành cần phải được triển khai khẩn trương, hoàn thành trong năm 2010 trên cơ sở dự báo sát số lượng, chất lượng nhân lực.
Cùng với xu thế phát triển chung của lực lượng báo chí, truyền thông cả nước, Đài Truyền hình Việt Nam cần tiếp tục phát huy lợi thế để phát triển đồng thời khẳng định vị thế của Đài Truyền hình quốc gia, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, diễn đàn của nhân dân, là nơi học tập, giải trí của mọi tầng lớp khán giả.
Tại Công văn số 234/TB-VPCP ngày 31/8 thông báo, cho ý kiến chỉ đạo về việc đấu nối lưới điện 500KV với các nước trong khu vực, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải yêu cầu Bộ Công Thương hoàn thiện Tổng sơ đồ điện VII, trình Thủ tướng Chính phủ trong tháng 9/2010.
Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã “kêu cứu” tới Thủ tướng Chính phủ trước việc các nhà đầu tư nước ngoài đang muốn tranh thủ giá điện rẻ để đầu tư ồ ạt vào Việt nam và xuất khẩu thép sang nước khác…
Theo tổng hợp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, giá trị sản xuất công nghiệp trong tháng 8 của cả nước tiếp tục tăng cao hơn mức kế hoạch cả năm, ước đạt 96,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,5% so với cùng kỳ năm 2009 và cao hơn mức kế hoạch cả năm.
Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng vừa đồng ý với đề nghị của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) về việc đàm phán với Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đối với Hiệp định khoản vay và các văn bản liên quan khác cho Chương trình phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNV) lần 2 - Tiểu chương trình 1.
Khi kiểm tra, yêu cầu phải ngừng cung cấp dịch vụ nhiều đại lý Internet vi phạm đã chấp hành qui định, một số là tìm cách lách luật. Tuy nhiên, “kẽ hở” để quản lý hoạt động game online lại không nằm từ phía các đại lý Internet.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.