Thứ trưởng Phạm Minh Huân cho rằng, lương bình ở EVN cũng chỉ ở mức trung bình.
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội thừa nhận, mức chênh lệch tiền lương tại EVN khá lớn, song nếu tính bình quân chung thì cũng chỉ ở mức trung bình.
Tại buổi họp báo công bố kết quả kiểm tra việc thực hiện cơ chế tiền lương tại Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) chiều 10/2, cả đại diện lãnh đạo Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội (Thứ trưởng Phạm Minh Huân) và lãnh đạo EVN (Phó tổng giám đốc Đinh Quang Tri) đã lý giải hầu hết những thắc mắc của báo giới trong công tác thực hiện chi trả lương cho người lao động tại tập đoàn.
Tuy nhiên, có một thông tin khá quan trọng, được dư luận đặc biệt quan tâm, đó là thu nhập của lãnh đạo ở EVN là bao nhiêu, thì đoàn kiểm tra của Bộ lại trả lời: Không biết!
VnEconomy giới thiệu cuộc đối chất giữa báo giới với đại diện lãnh đạo hai cơ quan trên.
Thưa Thứ trưởng, trong báo cáo kiểm tra của Bộ tại sao chỉ có thông tin về lương bình quân của EVN năm 2010 khoảng trên 7,3 triệu đồng/người/tháng mà không có mức lương 13 triệu đồng/tháng như một số thông tin trước đây?
Thứ trưởng Phạm Minh Huân: Tôi không rõ số liệu đó báo chí lấy từ đâu. Còn số liệu chúng tôi kiểm tra, công bố và đối chiếu với số liệu của Kiểm toán Nhà nước là tương đối giống nhau. Còn vừa qua, có báo nêu lương ở EVN 7,3 triệu đồng/tháng, có báo nêu 13 triệu đồng, thậm chí 29 triệu đồng... là do có thể là họ dẫn nguồn của ai đó phát biểu, nhưng đó là số liệu không chính xác.
Còn nếu tính cụ thể thì mức bình quân chung toàn tập đoàn năm 2010 là 7,628 triệu/tháng, Công ty mẹ 14,105 triệu đồng/tháng, khối truyền tải là 11,403 triệu đồng, khối phát điện là 10, 387 triệu đồng và khối phân phối là 6,765 triệu đồng/tháng.
Tại sao năm 2010 EVN bị lỗ hàng nghìn tỷ đồng, nhưng lương trả cho cán bộ, nhân viên lại cao hơn các năm có lãi?
Phó tổng giám đốc EVN Đinh Quang Tri: Năm 2010 là năm đầu tiên EVN bị lỗ. Nguyên nhân thì chúng tôi đã công bố công khai từ mấy tháng trước (hạn hán, phát dầu, chênh lệch tỷ giá...). Chúng tôi cũng đã báo cáo và kiến nghị lên Thủ tướng, nếu không có cơ chế tiền lương đặc thù thì lao động sẽ bỏ đi hết vì hiện không chỉ có EVN làm điện.
Trong đơn giá tiền lương 2010, với đơn vị tăng trưởng sản lượng điện thấp thì đơn giá tiền lương chỉ tương đương năm 2009, nhưng có đơn vị hoàn thành tốt, sản lượng vượt kế hoạch, hiệu quả kinh doanh cao, khi nhân với sản lượng thì quỹ lương sẽ cao hơn một chút, nên khi chia cho đầu người thu nhập sẽ nhỉnh hơn.
Tôi khẳng định rằng, gần 100 nghìn lao động tại EVN không thể hy sinh lương, lợi ích của mình chỉ vì phải chấp hành việc đảm bảo phát điện cho cả nền kinh tế.
Ông Phạm Minh Huân: Hiện nay công ty mẹ của EVN có hơn 3.200 người, văn phòng EVN có hơn 332 người. Có thể trong văn phòng chỉ có một bộ phận nhỏ làm công tác văn thư, lái xe... còn lại đại bộ phận là lao động “tinh túy” nhất của tập đoàn, họ vừa làm quản lý, vừa làm công tác đầu tư nên hệ số lương ở khối đó cao hơn 1,61 lần so với mức bình quân chung.
Còn chuyện năm 2010 EVN thua lỗ mà lương vẫn tăng là do đơn giá lương ngành điện được tính theo điện thương phẩm. Năm 2010, điện thương phẩm tăng 14,51% so với 2009, nếu đơn giá giữ nguyên thì năm 2010 sẽ tự động tăng đúng bằng thế, tức phải tăng trên 14,5%.
Tuy nhiên, do năm 2010 EVN bị lỗ nên Thủ tướng chỉ cho phép lương 2010 bằng 95% lương 2009. Hơn nữa để tăng sản lượng điện thì phải tăng thêm nhân lực, nên rốt cuộc lương 2010 chỉ tăng 6,6%.
Tôi cũng đồng tình rằng, nếu vì thua lỗ do khách quan mà đưa lương của ngành điện về mức thấp thì chắc không ai làm điện nữa.
Kết quả kiểm tra cũng cho thấy, lương tại EVN chỉ ở mức trung bình thôi. Tuy nhiên, chúng tôi đồng tình với báo chí là ngành điện phải dần minh bạch hơn nữa. Xã hội chắc chắn sẽ đồng thuận nếu những người làm trong ngành điện làm tốt, hiệu quả thì thu nhập tất yếu phải tương xứng.
Tiền lương, thu nhập cao nhất ở EVN là bao nhiêu? Cá nhân đồng chí Phó tổng giám đốc hiện đang hưởng lương bao nhiêu?
Ông Phạm Minh Huân: Tổng thu nhập đối với cán bộ quản lý ở EVN thì Bộ không nắm được cụ thể vì khi nhận thù lao ở các đơn vị mà cán bộ quản lý EVN làm đại diện, các đơn vị đó đã chuyển thẳng vào tài khoản cá nhân của từng người.
Còn lương cao nhất khoảng 51 triệu đồng/tháng với vị trí Chủ tịch Hội đồng Thành viên tập đoàn.
Ông Đinh Quang Tri: Lương của tôi hiện nay khoảng 40 triệu đồng/tháng.
Nhưng một số nguồn tin cho rằng, thu nhập của lãnh đạo ở EVN lên tới hàng trăm triệu đồng/tháng?
Điều đó cũng có thể, vì như đã nói ở trên, thu nhập của một số cán bộ cán bộ EVN là người đại diện phần vốn ở các doanh nghiệp có vốn góp của tập đoàn. Thực tế một số viên chức quản lý của EVN, khi tham gia đại diện phần vốn ở một số doanh nghiệp đã nhận trực tiếp các khoản thù lao do các doanh nghiệp này trả mà không nộp lại cho tập đoàn để thực hiện phân phối lại theo quy định.
Tuy nhiên, vấn đề này, năm 2010 Kiểm toán Nhà nước đã phát hiện ra, đã có khuyến nghị và những người được trả thù lao cũng đã nộp lại số tiền đó về cho tập đoàn.
Tại sao công tác tiền lương tại EVN có khá nhiều bất cập, vi phạm quy định như vậy nhưng trong nhiều năm liền Bộ không phát hiện ra? Việc Bộ lập đoàn kiểm tra chỉ là sau những phản ánh của báo chí?
Ông Phạm Minh Huân: Không phải EVN sai sót nhiều mà cơ quan quản lý không biết. Trước đó Kiểm toán Nhà nước cũng đã làm và có kiến nghị. Còn chúng tôi cũng đã có kiểm tra rồi.
Tuy nhiên, công tác kiểm tra, giám sát của các cơ quan quản lý nhà nước và Hội đồng Thành viên tập đoàn chưa thường xuyên. Hằng năm, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính cũng chỉ mới tập trung vào việc thẩm định đơn giá tiền lương kế hoạch đối với công ty mẹ và Hội đồng thành viên thẩm định đơn giá tiền lương đối với các công ty con theo tiêu chí sản xuất, kinh doanh, lao động, tiền lương do các đơn vị đề xuất nên chưa kịp thời phát hiện các sai phạm để uốn nắn các đơn vị thực hiện đúng quy định.
Ông Đinh Quang Tri: Để xảy ra những tồn tại trong vấn đề tiền lương tại EVN là do lực lượng làm công tác tiền lương tại tập đoàn này quá mỏng, chỉ có 5 người, trong khi từ năm 2008 trở về trước chúng tôi có hẳn một ban lao động tiền lương.
Quả thật, làm công tác tiền lương bây giờ phức tạp, khó khăn hơn nhiều vì nó phải gắn với hiệu quả sản xuất nên cán bộ phải am hiểu chuyên sâu, toàn diện hơn mới đảm nhiệm được.
Sai sót mà đoàn kiểm tra của Bộ chỉ ra đó là ở một số đơn vị cấp dưới của EVN, do cán bộ làm công tác tiền lương không nghiên cứu kỹ trước khi tham mưu cho lãnh đạo. Theo khuyến nghị của đoàn kiểm tra chúng tôi đã chỉ đạo, uốn nắn lại.
Sau khi kết thúc kiểm tra tại EVN, Bộ có tiếp tục triển khai tại các đơn vị, ngành khác?
Ông Phạm Minh Huân: Vừa qua, trong chủ trương tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, Chính phủ đã giao cho Bộ chúng tôi phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu cơ chế tiền lương của viên chức quản lý, của người lao động nên chắc chắn sẽ động chạm đến nhiều ngành khác chứ không chỉ có EVN hay dầu khí, viễn thông... Thủ tướng cũng yêu cầu phải trình trong năm nay.
Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, làm công tác tiền lương khó lắm, lương doanh nghiệp thì phải theo thị trường, trong khi nhiều người cứ căn cứ vào lương hành chính để yêu cầu kéo xuống. Với EVN, tổng chi phí cho quỹ lương của tập đoàn chỉ chiếm khoảng 5,5% giá thành sản xuất, kinh doanh điện.
Tuy không phải là nội dung chính thức của hội thảo khoa học trao đổi kinh nghiệm về tái cấu trúc các tập đoàn tài chính do Bộ Tài chính tổ chức ngày 14-2 tại Hà Nội nhưng nội dung liên quan đến cắt giảm chi phí doanh nghiệp lại là vấn đề làm nóng diễn đàn.
Hầu hết lãnh đạo các địa phương, bộ ngành và doanh nghiệp "than" rằng, phát triển khu kinh tế - khu công nghiệp khó quá trong khi dấu ấn, hiệu quả thì đang nhạt dần.
Một báo cáo mới nhất từ Bộ Kế hoạch đầu tư đã lật tẩy những chiêu chuyển giá của các DN nước ngoài. Bên cạnh đó, những khoản lợi nhuận bất hợp pháp hàng triệu USD đã được chỉ ra để tìm cách truy thu.
Tại hội nghị chuyên đề về chống thất thu và nợ đọng thuế do Tổng cục Thuế tổ chức ngày 1/3 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Tài chính Đỗ Hoàng Anh Tuấn đã nhấn mạnh thời gian tới, ngành thuế cần tập trung thanh tra chống thất thu ở 6 lĩnh vực trọng điểm liên quan...
Hội thảo chuyên đề về đề xuất “Hạch toán có lãi cho hàng không quốc gia Việt Nam theo phương pháp Trần Đình Bá” do Bộ Giao thông Vận tải tổ chức chiều 13/2 tại Hà Nội đã kết thúc mà không đưa tới một kết luận chính thức nào.
Trên con đường tái cấu trúc, các tổ chức tín dụng không đi một mình. Chính phủ đã giao Bộ Tài chính xây dựng Đề án tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và yêu cầu thực hiện ngay từ đầu năm 2012 này.
Ngày 10/1, Bộ Giao thông Vận tải đã phát đi bản thông cáo báo chí giải thích những lý do dẫn đến đề xuất áp dụng hai loại phí lưu hành phương tiện giao thông cá nhân đường bộ và phí ôtô đi vào trung tâm thành phố giờ cao điểm.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong một báo cáo mới đây trình Chính phủ về thực trạng của các tập đoàn kinh tế nhà nước, đã nhận định: “Hầu hết các tập đoàn kinh tế nhà nước đều kinh doanh có lãi. Tuy nhiên, để đánh giá được chính xác hiệu quả sản xuất - kinh doanh của tập đoàn còn nhiều vấn đề đặt ra”.
Quan điểm cá nhân và của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước đề xuất của Bộ Giao thông Vận tải về việc thu phí lưu hành phương tiện giao thông cá nhân vào trung tâm thành phố giờ cao điểm là câu hỏi...
Bộ Công Thương vừa phê duyệt kế hoạch cung cấp điện và vận hành hệ thống điện năm 2012. Theo đó, tổng sản lượng điện sản xuất của các nhà máy điện và nhập khẩu của toàn quốc năm 2012 là 120,795 tỉ kWh, tăng 10,89% so với năm 2011...
Trước sự bức xúc của người dân về xăng dầu kém chất lượng, pha tạp chất thời gian qua, trong buổi đối thoại trực tuyến chiều 6/1, Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng đã nhận một phần trách nhiệm khi để xảy ra tình trạng này.
Nhằm khuyến khích người cận nghèo tham gia BHYT, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (BHXHVN) vừa đề xuất tăng mức hỗ trợ đóng BHYT cho người cận nghèo từ mức 50% hiện nay lên 70%.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.