Theo tinh thần của Đề án tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước, Chính Phủ sẽ chấm dứt tình trạng các tập đoàn, tổng công ty đầu tư ra ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính trước năm 2015. Ảnh: Tuệ Doanh.
Trên con đường tái cấu trúc, các tổ chức tín dụng không đi một mình. Chính phủ đã giao Bộ Tài chính xây dựng Đề án tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và yêu cầu thực hiện ngay từ đầu năm 2012 này.
Sẽ lập Tổng cục Quản lý, Giám sát tài chính doanh nghiệp
Theo Bộ Tài chính, ngay trong quí 1-2012, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty 91 phải trình Thủ tướng Chính phủ; tổng công ty 90 và DNNN phải trình bộ quản lý ngành, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố phương án tái cơ cấu của mình để được phê duyệt và triển khai thực hiện.
Đáng chú ý, trong chủ trương tái cấu trúc DNNN lần này, Chính phủ yêu cầu dừng việc thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước mang tính hành chính, chỉ phê duyệt thành lập với đề án có tính khả thi cao, do yêu cầu bắt buộc để sắp xếp lại các DNNN hiện có, hoặc ở một số lĩnh vực ngành nghề mới mà Nhà nước cần nắm giữ 100% vốn điều lệ hay giữ cổ phần chi phối (như điện hạt nhân, sổ xố điện toán và trò chơi có thưởng).
Bên cạnh đó, Bộ Tài chính cũng được giao xây dựng, trình Thủ tướng đề án thành lập Tổng cục Quản lý, Giám sát tài chính doanh nghiệp. Tổng cục này sẽ trực thuộc Bộ Tài chính, làm đầu mối chính giám sát, đánh giá hiệu quả sản xuất, kinh doanh của DNNN, kể cả các tập đoàn, tổng công ty, đồng thời tiếp tục nâng cao năng lực của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC).
Bộ Tài chính cũng đang xây dựng nghị định về giám sát tài chính và đánh giá hiệu quả hoạt động đối với DNNN, xác lập và khống chế các tỷ trọng tài chính nhằm đảm bảo an toàn tài chính cho các tập đoàn theo từng nhóm ngành, nghề, trong đó giới hạn cụ thể tỷ lệ nợ vay trên vốn chủ sở hữu.
Chính phủ cho biết, tinh thần chủ đạo của đề án này là tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN theo hướng giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp, xây dựng cơ chế thu hút mạnh các nhà đầu tư chiến lược trong và ngoài nước, giảm thiểu các nhà đầu tư chiến lược là DNNN và khuyến khích người lao động tham gia mua cổ phần tại doanh nghiệp, đồng thời khuyến khích các hoạt động mua bán nợ giữa các DNNN, ngân hàng thương mại và công ty mua bán nợ (DATC).
Cũng theo tinh thần của đề án, Chính phủ sẽ chấm dứt tình trạng các tập đoàn, tổng công ty đầu tư ra ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính trước năm 2015, đồng thời “nghiêm cấm các tập đoàn, tổng công ty phi tài chính đầu tư vào các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và bất động sản”.
Liên quan đến quản trị doanh nghiệp, từ năm 2012, các tập đoàn, tổng công ty phải lập và công bố báo cáo tài chính hợp nhất theo chuẩn mực, chế độ kế toán Việt Nam. Các DNNN phải có ban kiểm soát nội bộ bao gồm các thành viên độc lập đủ năng lực, không kiêm nhiệm, phải xây dựng cơ chế thuê tổng giám đốc, thành viên hội đồng quản trị và hội đồng thành viên. Quy chế công bố các báo cáo tài chính, thông tin tài chính, kinh doanh và thông tin điều hành của tập đoàn, tổng công ty phải theo tiêu chuẩn như các công ty niêm yết.
Bốn nhóm và bốn bước
Trong năm 2011, Bộ Tài chính đã xây dựng đề án khung tái cấu trúc DNNN và đề án chi tiết đang được hoàn tất với bốn bước. Bước một, phê duyệt và giao triển khai thực hiện phương án tái cơ cấu từng tập đoàn, tổng công ty. Bước hai, xây dựng các phương án sắp xếp, đổi mới, cổ phần hóa DNNN của các bộ, ngành, địa phương. Bước ba sẽ là việc thực hiện lộ trình tái cấu trúc DNNN theo các giai đoạn: từ năm 2012-2015 sẽ cơ cấu xong nợ của các DNNN, cổ phần hóa xong đối với những DNNN được duyệt, hoàn thiện thể chế quản lý DNNN, tăng cường năng lực quản trị DNNN. Năm 2015 sẽ hoàn thành việc thoái vốn tại các tập đoàn, tổng công ty. Bước bốn, từ năm 2015-2020 sẽ tiếp tục sắp xếp lại, cổ phần hóa các tập đoàn, tổng công ty và các DNNN thuộc các bộ, ngành, địa phương.
Bộ Tài chính cũng phân loại DNNN thành bốn nhóm. Nhóm 1 gồm các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ hoạt động trong các ngành, lĩnh vực như quốc phòng, an ninh, hệ thống cơ sở hạ tầng then chốt, các ngành độc quyền mà Nhà nước cần kiểm soát. Nhóm này sẽ được tái cấu trúc về chiến lược, mô hình tổ chức, quản trị nội bộ, tái cấu trúc tài chính, nhân sự để nâng cao hiệu quả.
Nhóm 2 gồm các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối tuyệt đối, có quyền quyết định các vấn đề quan trọng (trên 75% vốn điều lệ), hoạt động trong các ngành, lĩnh vực sản xuất, cung cấp các sản phẩm dịch vụ công ích, bảo đảm nhu cầu thiết yếu cho phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của đồng bào dân tộc ở miền núi...
Nhóm 3 gồm các doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối (trên 65% vốn điều lệ) gồm những công ty quy mô lớn, có đóng góp lớn cho ngân sách, đi đầu trong việc ứng dụng công nghệ mũi nhọn, công nghệ cao và có vai trò đảm bảo các cân đối lớn cho nền kinh tế, bình ổn thị trường. Nhóm 2 và nhóm 3 sẽ được tái cấu trúc trước cổ phần hóa, cổ phần hóa, và tiếp tục tái cấu trúc sau cổ phần hóa.
Tính đến tháng 10-2011, cả nước còn 1.309 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, trọng tâm là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước với tổng tài sản gần 1,8 triệu tỉ đồng; vốn chủ sở hữu gần 700.000 tỉ đồng; lợi nhuận 117.000 tỉ đồng; nộp ngân sách 231.000 tỉ đồng, đóng góp khoảng 35% GDP, tạo ra 39,5% giá trị sản lượng công nghiệp, 28,8% tổng thu nội địa (không kể thu từ dầu thô và thuế xuất nhập khẩu), tạo việc làm cho khoảng 1,2 triệu lao động với mức thu nhập bình quân từ 3,5-5 triệu đồng/người/tháng.
(Nguồn: Bộ Tài chính)
Nhóm 4 gồm các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần chi phối hoặc không nắm giữ cổ phần hoạt động kinh doanh thuần túy. Các doanh nghiệp thuộc nhóm 4 sẽ được đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước.
“Việc cơ cấu lại hệ thống ngân hàng không thể thành công nếu không đồng bộ với cơ cấu lại đầu tư công và các tập đoàn, tổng công ty nhà nước”, TS. Vũ Đình Ánh đồng tình với chủ trương này. Tại Hội nghị về Tái cơ cấu ngân hàng do Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia chủ trì diễn ra tại Hà Nội trong tháng 1-2011, ông nói: “Một mặt, vốn đầu tư của các DNNN hiện chiếm trên 20% đầu tư công và các DNNN cũng chiếm trên 30% tổng tín dụng, đó là chưa kể các DNNN cũng đồng thời là khách hàng chủ yếu của tín dụng nhà nước thông qua VDB (Ngân hàng Phát triển Việt Nam) với qui mô tới hàng trăm ngàn tỉ đồng. Vì vậy, cơ cấu lại hệ thống ngân hàng không thể tách rời với cơ cấu lại đầu tư công và các DNNN. Mặt khác, nhiều tập đoàn, tổng công ty nhà nước đã tham gia đầu tư cả trực tiếp và gián tiếp ra ngoài ngành vào ngân hàng, chứng khoán, bất động sản… nên việc cơ cấu lại hệ thống ngân hàng không thể thực hiện thành công nếu không đồng bộ với cơ cấu lại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước”.
Cũng tại hội thảo trên, ông Phạm Bảo Khánh - Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam, đã phân tích việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng của Trung Quốc và rút ra một số kinh nghiệm cho Việt Nam. Ông cho rằng, tái cấu trúc doanh nghiệp gặp nhiều có khăn, tốn thời gian để xử lý hơn tái cấu trúc ngân hàng. Những hạn chế của luật pháp như thiếu các quy định phù hợp về thanh lý tài sản, luật phá sản… sẽ là trở ngại trong quá trình này. Do vậy cần kết hợp các biện pháp tài chính với những cải cách về các quy định và luật pháp, đặc biệt, cải cách về quản trị trong ngân hàng và doanh nghiệp.
Ông Khánh cũng cho rằng Chính phủ nên làm rõ việc phân bổ chi phí tái cấu trúc, đặc biệt là tái cấu trúc ngân hàng và cam kết cung cấp các nguồn lực tài chính cần thiết. Nếu chi phí phân bổ không được làm rõ, việc tái cấu trúc tiếp tục bị trì hoãn do thiếu kinh phí cuối cùng sẽ dẫn đến gánh nặng tài chính lớn hơn.
Hội thảo chuyên đề về đề xuất “Hạch toán có lãi cho hàng không quốc gia Việt Nam theo phương pháp Trần Đình Bá” do Bộ Giao thông Vận tải tổ chức chiều 13/2 tại Hà Nội đã kết thúc mà không đưa tới một kết luận chính thức nào.
Tuy không phải là nội dung chính thức của hội thảo khoa học trao đổi kinh nghiệm về tái cấu trúc các tập đoàn tài chính do Bộ Tài chính tổ chức ngày 14-2 tại Hà Nội nhưng nội dung liên quan đến cắt giảm chi phí doanh nghiệp lại là vấn đề làm nóng diễn đàn.
Hầu hết lãnh đạo các địa phương, bộ ngành và doanh nghiệp "than" rằng, phát triển khu kinh tế - khu công nghiệp khó quá trong khi dấu ấn, hiệu quả thì đang nhạt dần.
Ngày 10/1, Bộ Giao thông Vận tải đã phát đi bản thông cáo báo chí giải thích những lý do dẫn đến đề xuất áp dụng hai loại phí lưu hành phương tiện giao thông cá nhân đường bộ và phí ôtô đi vào trung tâm thành phố giờ cao điểm.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong một báo cáo mới đây trình Chính phủ về thực trạng của các tập đoàn kinh tế nhà nước, đã nhận định: “Hầu hết các tập đoàn kinh tế nhà nước đều kinh doanh có lãi. Tuy nhiên, để đánh giá được chính xác hiệu quả sản xuất - kinh doanh của tập đoàn còn nhiều vấn đề đặt ra”.
Quan điểm cá nhân và của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước đề xuất của Bộ Giao thông Vận tải về việc thu phí lưu hành phương tiện giao thông cá nhân vào trung tâm thành phố giờ cao điểm là câu hỏi...
Bộ Công Thương vừa phê duyệt kế hoạch cung cấp điện và vận hành hệ thống điện năm 2012. Theo đó, tổng sản lượng điện sản xuất của các nhà máy điện và nhập khẩu của toàn quốc năm 2012 là 120,795 tỉ kWh, tăng 10,89% so với năm 2011...
Trước sự bức xúc của người dân về xăng dầu kém chất lượng, pha tạp chất thời gian qua, trong buổi đối thoại trực tuyến chiều 6/1, Bộ trưởng Công Thương Vũ Huy Hoàng đã nhận một phần trách nhiệm khi để xảy ra tình trạng này.
Nhằm khuyến khích người cận nghèo tham gia BHYT, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam (BHXHVN) vừa đề xuất tăng mức hỗ trợ đóng BHYT cho người cận nghèo từ mức 50% hiện nay lên 70%.
Thông tin từ Bộ GTVT ngày 30/12 cho biết Bộ trưởng Bộ GTVT Đinh La Thăng đã ký tờ trình số 8868/TTr-BGTVT trình Thủ tướng Chính phủ đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết về việc bổ sung phí lưu hành...
Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Y tế là 4 bộ nằm cuối bảng xếp hạng theo thứ tự từ dưới lên về xây dựng và thi thành luật pháp.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.