Trong thời gian qua, đã có nhiều dự án bị rút giấy phép, trong đó có những dự án lên tới vài tỷ USD.Nhiều chuyên gia lên tiếng về hiện tượng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có dấu hiệu bất ổn.
Ông Đỗ Nhất Hoàng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đã trả lời phỏng vấn về vấn đề này.
Thưa ông, đang có nhiều dự án FDI lớn, có số vốn lên tới nhiều tỷ USD ở các địa phương chậm tiến độ thực hiện, bị rút giấy chứng nhận đầu tư như dự án Dự án Bãi biển Rồng (Mỹ) ở Quảng Nam lên tới 4,5 tỷ USD; Dự án khu liên hợp thép Cà Ná ở tỉnh Ninh Thuận 9,8 tỷ USD... Theo ông, đâu là nguyên nhân dẫn đến tình trạng này?
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng này nhưng nguyên nhân chính vẫn là do khủng hoảng tài chính, một số nhà đầu tư khó khăn do tập đoàn mẹ cũng khó khăn. Họ khó giữ được cam kết về tiến độ. Nhưng cũng có một số trường hợp nấn ná triển khai không phải vì họ thiếu vốn mà do năng lực kỹ thuật để triển khai dự án, có thể hiểu là họ không chuyên nghiệp nên thấy khó khăn thì tìm đối tác khác huy động vốn hoặc chuyển nhượng...
Vấn đề của cơ quan quản lý là tìm hiểu lý do thật sự ở chỗ nào. Nhà đầu tư không có năng lực thì chúng ta cũng có nhiều cách để giải quyết. Hiện nay, thật sự vấn đề tìm nguồn vốn cũng không phải quá khó nếu dự án khả thi, hoặc giúp họ tìm đối tác khác, thậm chí rút giấy phép để trao dự án đó cho nhà đầu tư có năng lực hơn.
Chúng tôi đã thống kê cả nước hiện có 24 dự án có quy mô từ 1 tỷ USD trở lên. Trong số đó, hiện tượng dự án chậm triển khai, nguy cơ vốn ảo là có. Cục Đầu tư nước ngoài đang kiến nghị cần phải rà soát, sàng lọc lại các dự án này, qua đó chỉ giữ lại những nhà đầu tư thực sự có năng lực.
Như thế mới làm trong sạch và lành mạnh môi trường đầu tư, nhất là trong giai đoạn chúng ta đang đặt vấn đề đi vào chất lượng đầu tư như hiện nay. Cũng phải nhìn nhận một thực tế ở nhiều nơi, gọi được nhà đầu tư lớn vào là đã có dấu hiệu tích cực, đánh thức tiềm năng của cả một vùng, miền.
Nhiều địa phương gọi được các dự án lớn thì khả năng thu hút đầu tư khá sáng sủa, vì thấy có nhà đầu tư trước, nhà đầu tư mới cũng muốn vào tìm kiếm cơ hội đầu tư. Nhưng nếu là vốn ảo, không có năng lực triển khai thì phải rút giấy phép.
Hiện nay, tôi cho rằng có một số ý kiến cực đoan khi nói các địa phương thu hút FDI vì bệnh thành tích. Tôi lại thiên về quan điểm cho rằng, mỗi địa phương phải tự cứu mình và phải vì lợi ích chung của cả nước. Hướng xử lý tình trạng này của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng như của các địa phương trong thời gian tới là gì, thưa ông?
Vừa qua, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cử nhiều đoàn công tác đến các tỉnh thành tìm cách thúc đẩy giải ngân dòng vốn này.
Tiếc là thời gian gần đây những dự án càng lớn thì tốc độ giải ngân càng chậm. Thậm chí có những dự án lớn chưa hề triển khai đồng vốn nào. Một số địa phương cũng nhận thức được tình hình này và đang rà soát, tổng hợp số liệu các dự án cần quan tâm để xem những dự án này còn có thể triển khai hay cần biện pháp kiên quyết hơn như rút giấy phép.
Đây là một trong những công tác trọng tâm của xúc tiến đầu tư trong giai đoạn này, khác với trước đây là chỉ tập trung xúc tiến làm sao để có càng nhiều dự án càng tốt. Đã đến lúc xem lại hiệu quả thực tế là gì. Xúc tiến bây giờ không chỉ là tìm dự án mới mà là chăm sóc nhà đầu tư, giúp họ triển khai dự án đúng tiến độ, đúng cam kết, đúng định hướng chúng ta đặt ra ban đầu.
Hiện nay Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng với các bộ ngành đang nghiên cứu, phân loại các dự án, những dự án nào có khó khăn do khách quan hoặc do nguyên nhân chủ quan thì cơ quan chức năng sẽ có những điều chỉnh cho phù hợp.
Riêng về những dự án mà do nhà đầu tư không đủ năng lực tài chính, nếu như không thể đáp ứng được những yêu cầu thì chúng ta sẽ kiên quyết điều chỉnh để tạo cơ hội cho các nhà đầu tư có tiềm năng khác.
Hiện nay những dự án lớn gặp khó khăn đều gửi đơn đề nghị giãn tiến độ, tuy nhiên, chúng ta phải thật sự tinh trong cách nhìn nhận. Họ có khó khăn thật và tích cực tìm kiếm nguồn vốn, khắc phục khó khăn hay chần chừ để tìm cách chuyển nhượng là vấn đề phải tìm hiểu kỹ. Chúng ta có thể tạo điều kiện để nhà đầu tư giãn ra nhưng không thể vô thời hạn được. Chấm dứt một dự án là việc cực chẳng đã và rất tốn kém.
Địa phương cũng mong muốn có nhà đầu tư khác tiếp nhận dự án tốt hơn là thanh lý, nhưng cũng không thể không có biện pháp kiên quyết. Nếu không thì mất cơ hội cho nhà đầu tư khác, cơ hội để địa phương phát triển, kể cả cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam. Vì tôi biết một số doanh nghiệp trong nước có khả năng thực hiện dự án lớn, trong khi những vị trí đẹp đã cấp cho nhà đầu tư nước ngoài, họ không còn cơ hội nữa là không công bằng. Trong 8 tháng qua mức giải ngân vốn FDI được cho là đạt ở mức cao, nhưng cũng có nhiều ý kiến cho rằng con số này cao hơn thực tế, vậy quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?
Tôi nghĩ rằng khi nói đến vốn giải ngân phải xét đến nguyên nhân chủ quan và khách quan. So với chính bản thân chúng ta và so với các nước trong khu vực, nguồn vốn giải ngân của chúng ta chưa phải mức cao.
Tuy nhiên, trong bối cảnh kinh tế khủng hoảng toàn cầu như hiện nay thì con số vốn giải ngân như hiện nay không phải là thấp. Tuy nhiên không phải vì thế mà chúng ta yên tâm với con số này. Chúng tôi đang tăng cường phối hợp với các địa phương và các Bộ ngành hỗ trợ các dự án để tăng tỷ lệ giải ngân lên.
Những công bố gần đây cho thấy, doanh nghiệp (DN) nước ta đầu tư cho KHCN chỉ bằng 1/3 so với các nước phát triển và 80% không có chiến lược đầu tư cho KHCN. DN cũng chỉ dành 0,2-0,3% doanh thu cho đầu tư đổi mới công nghệ, trong khi chỉ số này ở Ấn Độ, Hàn Quốc lần lượt là 5% và 10%.
Đề cập một số vấn đề liên quan đến việc chuyển đổi mô hình doanh nghiệp nhà nước, chuyên gia kinh tế - tài chính cao cấp, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế - Ngân sách của Quốc hội, ông Đặng Văn Thanh cho rằng, vẫn còn phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, cho dù các cơ chế, chính sách đã tạo ra sự bình đẳng trong môi trường đầu tư.
Sau kết luận của thanh tra Chính phủ về việc mua trữ thuốc Tamiflu vượt quá nhu cầu, dẫn đến hơn 10 triệu viên Tamiflu hết hạn sử dụng, nguyên bộ trưởng bộ Y tế Trần Thị Trung Chiến đã có thư gửi bộ Chính trị, thường trực Chính phủ, thanh tra Chính phủ và các cơ quan thông tin đại chúng để phản ứng kết luận trên.
Mới đây, Nghị quyết phiên họp tháng 8 của Chính phủ nêu rõ: Lãi suất cho vay hiện vẫn đang ở mức cao. Như vậy, cho tới hiện tại, bài toán hạ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) xem ra vẫn chưa có lời giải cụ thể. Vấn đề này, phóng viên đã trao đổi với ông Lê Đức Thúy, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.
“Theo quan sát của cá nhân tôi, một số doanh nghiệp sữa ngoại lợi dụng thị trường Việt Nam đang có tiềm năng và cũng rất mới mẻ để tăng giá bất hợp lý. Điều quan trọng là chúng ta phải kiểm soát được giá sữa qua biên giới”.
Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đang trong quá trình sơ kết. Một trong những vấn đề được đặt ra là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Thiên tai ở nhiều nước sản xuất lương thực lớn trên thế giới như Nga, Ấn Độ, Trung Quốc... đã gây biến động và đẩy giá nông sản trên thế giới tăng cao, đồng thời tác động đến giá nông sản trong nước, kéo theo việc tăng giá và đầu tư vào nông nghiệp hấp dẫn hơn.
Ông Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường chia sẻ về những kẽ hở trên thị trường bất động sản trong nước và ảnh hưởng của quy hoạch Hà Nội đến sự phát triển của thị trường, đặc biệt là định hướng phía Tây.
Cuối tháng 8-2010, tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch Ratings đã đánh tụt hạng tín nhiệm của hai ngân hàng là Vietcombank (VCB) và Á Châu (ACB). Trước đó, Fitch đã hạ bậc tín nhiệm tín dụng dài hạn của VN.
Tổ chức xếp hạng tín dụng Fitch Ratings vừa công bố hạ định mức tín nhiệm của Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) và Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN (VCB) từ mức D xuống D/E.Chúng tôi có cuộc trao đổi với ông Lê Xuân Hải, Tổng Giám đốc ACB, để làm rõ hơn vấn đề này.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.