Theo TS. Cao Sĩ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thủ đoạn của Madoff trong vụ lừa đảo 50 tỉ USD là lấy vốn của người này trả cho người kia với mức lãi cao.
Ông cũng cho rằng, "mồi" lãi suất là công cụ quen thuộc mà hình thức “tín dụng đen” sử dụng để "bẫy" không chỉ người dân mà ngay cả các quỹ đầu tư lớn, các ngân hàng sừng sỏ trên thế giới.
- Thưa ông, gần đây báo chí thế giới và trong nước đang “nóng” lên bởi những thông tin về việc cựu chủ tịch sàn chứng khoán Nasdaq và là chủ tịch công ty đầu tư chứng khoán mang tên mình, Bernard L. Madoff, bị bắt vì cáo buộc lừa đảo 50 tỉ USD của giới đầu tư. Theo ông, những ảnh hưởng từ vụ việc này sẽ tác động thế nào đến Việt Nam?
TS Cao Sỹ Kiêm: Cần phải kiểm soát chặt các tổ chức tài chính và xử nghiêm các vi phạm để ngăn ngừa các vụ sập mồi lãi suất "tín dụng đen". (Ảnh: Minh Yến)
- Ảnh hưởng của vụ việc này đến thị trường tài chính, chứng khoán Mỹ và một số quốc gia từ châu Âu đến châu Á thì rõ rồi do danh sách các nạn nhân của vụ lừa đảo ngày càng gia tăng.
Còn với Việt Nam, tất nhiên cũng sẽ là những dư chấn dây chuyền. Dù không một ngân hàng, quỹ đầu tư nào của Việt Nam có giao dịch trực tiếp và là nạn nhân của vụ việc này song việc các ngân hàng Mỹ và cả các ngân hàng quốc tế khác đã bị cuốn vào vòng xoáy của vụ lừa đảo 50 tỷ USD này khiến Việt Nam ít nhiều bị ảnh hưởng theo kiểu dây chuyền, giống như những ảnh hưởng mà Việt Nam gặp phải khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thời gian vừa qua.
Ví dụ, Việt Nam giao dịch với các ngân hàng quốc tế như HSBC, trong khi HSBC lại giao dịch với Mỹ thì đương nhiên khi Mỹ bị ảnh hưởng Việt Nam cũng sẽ chịu tác động, dù có thể sẽ nhẹ hơn phần nào.
Ngoài ra, hiện nay mặc dù thị trường tài chính Việt Nam chưa thực sự liên thông với thị trường tài chính quốc tế song thị trường chứng khoán của Việt Nam gần đây lại chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những thông tin tài chính thế giới, việc chỉ số chứng khoán Mỹ, châu Á hay châu Âu tăng hay giảm cũng ít nhiều chi phối tâm lý nhà đầu tư Việt Nam.
- Từ câu chuyện bên ngoài, ông có thể đưa ra những nhìn nhận về bài học đối với ngành tài chính Việt Nam?
- Thực ra, thủ đoạn mà Madoff sử dụng để lừa đảo các ngân hàng và quỹ tín dụng toàn cầu rất đơn giản, chỉ là một trò lừa đảo lấy vốn của người này trả lãi cho người kia với chi phí thấp và mức lãi cao.
Ở Việt Nam hình thức như thế này cũng có khá nhiều trong thời điểm hiện tại mà người ta thường gọi đó là hình thức “tín dụng đen”.
Tại Việt Nam, vấn đề vay nặng lãi theo kiểu chộp giật, nâng lãi suất lên cao để hút lượng tiền lớn trong dân, vay của người sau, “đập” lại cho người trước và rồi khi con số huy động lên quá cao thì hậu quả sẽ là “bùng” nợ. Mấy tháng qua, khi mà thị trường thiếu vốn thì tình trạng này đã xuất hiện.
Theo đánh giá của tôi, đây là các biểu hiện của thị trường mở song thiếu sự quản lý.
Bài học lớn nhất trong những vụ việc như thế này là việc cảnh báo chúng ta cần phải có cơ chế kiểm soát, định chế thật chặt chẽ để tránh những kẽ hở.
Những vụ lừa đảo xảy ra tại thị trường chứng khoán thì còn có nghiệp vụ để phát hiện, nhưng các vụ việc lừa đảo tín dụng trong dân thì rất khó để cơ quan quản lý tự phát hiện. Các cơ quan quản lý chỉ vào cuộc khi được thông tin từ trong dân, mà khi có được thông tin này thì không thể phòng được nữa vì sự việc thường đã vỡ lở rồi.
- Vậy theo ông, để hạn chế hình thức “tín dụng đen” như vậy cần phải làm gì?
- Muốn làm tốt việc hạn chế hình thức “tín dụng đen” thì cần phải có 3 yếu tố: Nhận thức của dân phải được nâng lên, không tham gia, và chạy theo lợi nhuận trước mắt thì những kẻ dùng mồi lãi suất sẽ không còn đất sống. Muốn như vậy phải tăng cường tuyên truyền, giải thích cho người dân.
Thứ hai là cần phải có sự chỉ đạo, quản lý của các cấp chính quyền, đặc biệt là cơ quan nhà nước ở các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, tài chính, bảo hiểm. Phải có sự tăng cường kiểm tra kiểm soát ở các lĩnh vực này.
Thứ ba là việc xử lý của chúng ta cần phải nghiêm minh. Cần các chế tài đủ mạnh để quản lý chặt hơn, xử lý kịp thời hơn. Đây cũng là biện pháp răn đe cần thiết.
Xuất khẩu – đầu tư và dịch vụ của Việt Nam bị tác động
Đánh giá về tầm ảnh hưởng của kinh tế thế giới đối với kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, TS Cao Sĩ Kiêm cho rằng, khủng hoảng tài chính thế giới vừa qua đã tác động đến Việt Nam trong 3 lĩnh vực: Xuất khẩu – đầu tư và dịch vụ.
Về xuất khẩu, trước đây nếu xuất khẩu hàng nông sản, may mặc và thủy sản là thế mạnh của Việt Nam thì này, với sự suy giảm kinh tế toàn cầu, xuất khẩu Việt Nam đã bị thu hẹp thị trường, số lượng và cả giá cả.
Về đầu tư, mặc dù cam kết đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) không ngừng gia tăng và lên đến con số kỷ lục trên 60 tỷ USD trong 11 tháng đầu năm song tỷ lệ vốn giải ngân trên vốn đăng ký có thể chỉ kỳ vọng ở mức 1/6 trong năm 2008.
Về đầu tư gián tiếp (FII) cũng vậy, nếu trong năm 2007, nguồn vốn FII không ngừng chảy vào Việt Nam thông qua kênh đầu tư chứng khoán thì năm nay, với sự phá sản của hàng loạt tập đoàn kinh tế và các quỹ đầu tư lớn trên toàn thế giới, nguồn vốn FII không những ngừng rót vào Việt Nam mà những danh mục đang đầu tư cũng bị cắt giảm dần.
Về dịch vụ cũng vậy, thống kê về lượng khách nước ngoài vào Việt Nam tham quan trong 11 tháng qua đã cho thấy, không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới người dân đâu đâu cũng đang trong cảnh “thắt lưng buộc bụng”, cắt giảm tối đa những chi tiêu không cần thiết.
TS Kiêm khẳng định: Những tác động từ kinh tế thế giới đến Việt Nam chỉ là vấn đề thời gian, nhanh hay chậm mà thôi.
Bên lề buổi làm việc giữa Thủ tướng với các tập đoàn và tổng công ty nhà nước sáng 16/12, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc đã trao đổi với báo giới về định hướng sử dụng nguồn vốn kích cầu sắp tới.
Nhiều khả năng sẽ tiếp tục có những dự án lớn được cấp phép ngay đầu năm 2009. Ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) khẳng định, sẽ không có hạn chế nào đối với các dự án đầu tư nước ngoài đáp ứng đủ các điều kiện về quy hoạch, các quy định pháp luật về đầu tư của Việt Nam.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú: Sau 2 năm Việt Nam gia nhập WTO, thách thức lớn nhất là phát triển cơ chế và phương tiện để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ trở thành các doanh nghiệp mạnh, có khả năng cạnh tranh
Trong cuộc trả lời phỏng vấn với Thời báo Tài chính (Financial Times) nhân dịp chuyến thăm châu Âu, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bày tỏ sự tin tưởng vào sự tăng trưởng kinh tế của VN. VietNamNet trích giới thiệu cuộc phỏng vấn.
Yếu kém trong việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ đang là yếu tố kìm hãm phát triển công nghiệp Việt Nam. Phóng viên Báo Đầu tư đã phỏng vấn ông Kitashima Satoshi, Đại diện Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tại TP.HCM về kế hoạch đầu tư của Nhật Bản trong năm 2009.
Sau khi quyết định sử dụng 1 tỉ USD để kích cầu đầu tư, tiêu dùng, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch – Đầu tư (KH – ĐT) lên kế hoạch sử dụng số tiền này một cách hiệu quả. Dự kiến đến cuối tháng, kế hoạch chi tiết sẽ hoàn thành. Trả lời phỏng vấn Báo Người Lao Động, Bộ trưởng Bộ KH – ĐT Võ Hồng Phúc nói đang cân nhắc danh mục các nhóm dự án được tiếp cận nguồn vốn từ gói kích cầu này
Ngày 9-12, các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ đã có cuộc gặp gỡ với ông David Spooner, Trợ lý Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ (ảnh). Tại cuộc gặp này (do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức), ông David Spooner (ảnh) đã có cuộc trao đổi nhanh với báo chí xung quanh tình hình xuất khẩu dệt may vào Hoa Kỳ trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế.
Lãi suất (LS) cho vay tiếp tục giảm mạnh theo chủ trương nới lỏng chính sách tiền tệ của Chính phủ. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp (DN) và người dân vẫn khó tiếp cận được vốn từ các ngân hàng thương mại (NHTM). Xoay quanh thực trạng này, PV Báo SGGP đã có cuộc trao đổi với PGS-TS Trần Hoàng Ngân, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia (ảnh).
Đoàn doanh nghiệp bán lẻ ở London (Anh) do ông Neil Wynn-Jones, cố vấn thương mại quốc tế cao cấp của cơ quan thương mại và đầu tư vương quốc Anh (UKTI) dẫn đầu đang có chuyến tìm hiểu thị trường đầu tư và tìm kiếm đối tác từ ngày 16 – 21.11 tại Hà Nội và TP.HCM. SGTT phỏng vấn ông Neil Wynn-Jones dịp này.
Tạo tâm lý tin tưởng cho nhà đầu tư nước ngoài bằng sự ổn định của tình hình kinh tế, tài chính và phải làm tăng lợi suất của thị trường chứng khoán... TS Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tiền tệ quốc gia, cho biết khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Người Lao Động
Hiện nay số vốn vay của Tập đoàn Công nghiệp tàu Thuỷ (Vinashin) lên tới 2 tỷ USD, nhiều ý kiến lo ngại số vốn vay gấp nhiều lần vốn sở hữu, hoạt động của Vinashin có hiệu quả? Ông Phạm Thanh Bình, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vinashin đã trả lời phỏng vấn báo chí về vấn đề này.
Ngân hàng cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) sẽ có những thay đổi gì khi HSBC nâng tỷ lệ nắm giữ tại ngân hàng này lên 20%. Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn ông Hồ Hùng Anh - Chủ tịch HĐQT Techcombank
Bên lề cuộc tọa đàm "Quản lý gian lận và các giải pháp phòng chống gian lận" do Kiểm toán Nhà nước (KTNN) và Công ty TNHH Ernst &Young Việt Nam phối hợp tổ chức mới đây, ĐTCK đã có cuộc phỏng vấn ông Petrus Gimbad, Phó tổng giám đốc phụ trách dịch vụ tư vấn rủi ro, Công ty Ernst & Young Việt Nam xung quanh vấn đề này.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.