Trong cuộc trả lời phỏng vấn với Thời báo Tài chính (Financial Times) nhân dịp chuyến thăm châu Âu, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bày tỏ sự tin tưởng vào sự tăng trưởng kinh tế của VN. VietNamNet trích giới thiệu cuộc phỏng vấn.
- Hiện có nhiều lo ngại về khả năng suy thoái ở Mỹ và sự tăng trưởng chậm lại của kinh tế toàn cầu. Nhiều nước châu Á lo ngại về tình hình này. Việt Nam sẽ đối phó với tình hình này như thế nào, và đặc biệt là ngài có nghĩ rằng Việt Nam có thể đạt được mục tiêu tăng trưởng 9% năm 2008, trong bối cảnh đang có những khó khăn nói trên?
Trong năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của VN đạt hơn 50 tỷ USD, chiếm hơn 60% GDP của chúng tôi. Tổng kim ngạch mậu dịch chiếm 160% GDP. Kim ngạch xuất khẩu của VN sang Mỹ trong năm 2007 đạt hơn 10 tỷ USD, chiếm 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của chúng tôi.
Suy thoái kinh tế Mỹ cũng như sự tăng trưởng chậm lại của kinh tế toàn cầu sẽ ảnh hưởng không tốt tới các nền kinh tế trên thế giới, trong đó có nền kinh tế VN. Với sự tăng trưởng chậm lại của kinh tế toàn cầu, tình hình thị trường xuất khẩu của VN sẽ khó khăn hơn.
Trong bối cảnh đó, chúng tôi phấn đấu đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 8-9% mỗi năm và chúng tôi đã đưa ra những giải pháp lớn sau. Thứ nhất, VN đã trở thành một thành viên đầy đủ của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và đây là một cơ hội để VN mở rộng các thị trường xuất khẩu, không chỉ sang Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc mà còn tới các thị trường lớn của Trung Đông và châu Phi. Chúng tôi đang nỗ lực đạt mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu 20% trong năm nay và tôi cho rằng đây là một nhiệm vụ khả thi bởi trong hai tháng đầu năm nay, xuất khẩu của VN đã tăng 30%.
- Như vậy là ngài hoàn toàn tin tưởng về tình trạng tổng thể của nền kinh tế VN, ngay cả khi kinh tế Mỹ suy thoái. Ngài có nghĩ VN có thể vừa tiếp tục tăng trưởng cao như ngài vừa nhận định, vừa kiểm soát được lạm phát - một mục tiêu quan trọng nữa của VN?
Trước khi trả lời câu hỏi này, tôi muốn nói rằng chúng tôi sẽ duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế 8-9% mỗi năm bằng chiến lược đa dạng hóa và mở rộng các thị trường xuất khẩu. Ngoài ra, chúng tôi cũng sẽ khuyến khích đầu tư trong nước. Chúng tôi đang khuyến khích đầu tư mạnh từ mọi thành phần kinh tế, kể cả khu vực tư nhân và các doanh nghiệp nhà nước. Chúng tôi cũng khuyến khích đầu tư từ các hộ gia đình, đầu tư của khu vực nhà nước và chúng tôi cũng khuyến khích mạnh mẽ đầu tư nước ngoài....
Trong năm 2007, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được giải ngân là 8 tỷ USD, là một động lực quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế của VN.
Chúng tôi cũng rất hài lòng với những tiến bộ đáng kể về quan hệ, hợp tác thương mại và đầu tư giữa Anh và Việt Nam.
Trong năm 2007, kim ngạch thương mại hai chiều của chúng ta là 1,7 tỷ USD, tăng 21% so với năm 2006 và năm nay con số này được dự báo sẽ tăng hơn 20%. Về đầu tư của Anh vào Việt Nam, các doanh nghiệp Anh đã đầu tư vào 99 dự án với tổng số vốn gần 1,5 tỷ USD. 50% trong tổng số 1,5 tỷ USD cam kết này đã được giải ngân. Và tôi tin rằng có những triển vọng rất hứa hẹn đối với đầu tư của Anh vào VN trong năm nay và trong những năm tới.
- Đa dạng hóa thương mại, đầu tư trong nước, tất cả đều là những chính sách rõ ràng nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của VN trong tương lai. Liệu những chính sách này có nguy cơ góp phần gia tăng lạm phát? Làm thế nào VN có thể giải quyết vấn đề lạm phát đồng thời thực hiện những chính sách thúc đẩy tăng trưởng như ngài đã nói?
Tôi rất quan tâm tới việc kiểm soát lạm phát. Chính phủ VN đã đặt ra mục tiêu tăng trưởng 8-9%, kết hợp với việc kiểm soát lạm phát bởi chúng tôi sẽ không để lạm phát cao ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của chúng tôi.
"Gần đây, chúng tôi đã thắt chặt chính sách tiền tệ và nâng lãi suất. Tôi nghĩ, điều đó sẽ giúp các doanh nghiệp tiếp tục các dự án hiệu quả của họ và để loại bỏ mọi dự án không hiệu quả".
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
Tôi nghĩ chúng ta nên nhìn vào bức tranh tổng thể của thế giới với sự suy thoái của kinh tế toàn cầu, giá nguyên vật liệu cao, sự giảm giá của đồng đôla Mỹ và sự dao động của các đồng tiền mạnh khác trên thế giới, cũng như các thảm họa tự nhiên, dịch bệnh, và giá dầu thô cao.
Tất cả những yếu tố này đã ảnh hưởng lớn tới VN và đẩy giá thực phẩm tăng cao ở VN. Đó là những lý do bên ngoài dẫn tới lạm phát cao ở Việt Nam và cũng đang ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế VN.
Tuy nhiên, từ phía chúng tôi, trong năm 2007 chúng tôi đã có những thiếu sót trong việc quản lý chính sách tiền tệ ở VN.
Chúng tôi đã tăng tín dụng quá nhanh... Các ngân hàng ở VN, họ muốn đạt tăng trưởng cao hơn, do vậy họ nâng mức tăng trưởng tín dụng và tăng các khoản cho vay đối với doanh nghiệp và khu vực tư nhân, do đó đã ảnh hưởng tới việc quản lý tiền tệ ở Việt Nam.
Chẳng hạn cung tiền đã tăng 46% trong năm 2007 so với 2006. Tín dụng tăng 53% trong năm 2007 so với 2006 và căn cứ vào bối cảnh đó, GDP của chúng tôi tăng trưởng 8,5%. Nếu chúng ta nhìn vào năm 2006, GDP của VN tăng 8,2% và cung tiền tăng 26% và tăng trưởng tín dụng là 27%.
Với mục tiêu tăng trưởng GDP 8-9% trong năm nay, chúng tôi sẽ kiểm soát lạm phát bằng cách thắt chặt chính sách tiền tệ. Chúng tôi sẽ thực hiện chính sách tài khóa và tiền tệ linh hoạt, khôn khéo để giảm tăng trưởng tín dụng và cung tiền xuống mức dưới 30%.
- Khi khống chế sự tăng trưởng tín dụng quá mức như ngài vừa nói, liệu có nguy cơ rằng sự khống chế đột ngột sẽ gây ra nhiều cú sốc cho hệ thống? Theo tôi hiểu những nỗ lực thắt chặt này đang có ảnh hưởng rất đột ngột đối với hoạt động của các công ty. Ngài có lo ngại về điều đó không?
Có chứ. Tôi đồng ý với các bạn bởi để kiểm soát lạm phát, chúng tôi cũng giảm sự tăng trưởng tín dụng và cung tiền bằng cách nâng lãi suất cho vay và trong vài tuần qua điều đó cũng đã ảnh hưởng tới đầu tư và phát triển của các công ty tại Việt Nam.
Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng đây là việc làm đúng... Nó giúp chúng tôi loại bỏ các dự án kém hiệu quả và tăng cường hiệu quả của các doanh nghiệp. Và tôi nghĩ tất cả các biện pháp giảm tăng trưởng tín dụng và giảm cung tiền này sẽ không ảnh hưởng tới các dự án có hiệu quả.
Đối với thị trường chứng khoán và bất động sản, chúng tôi sẽ tiếp tục cho vay để khuyến khích sự phát triển lành mạnh của các thị trường này.
- Ngài nói về cung tiền và kiểm soát tăng trưởng tín dụng. Một số người vay tiền lớn trong hệ thống là các công ty quốc doanh. Những công ty này đang vay nhiều tiền để mở rộng hoạt động. Liệu Chính phủ có cảm thấy rằng cần phải kiểm soát chặt hơn hoạt động vay tiền của các doanh nghiệp quốc doanh bởi ngài cũng nói rằng VN đang khuyến khích đầu tư của các doanh nghiệp quốc doanh?
Việt Nam là một nền kinh tế thị trường, do đó các ngân hàng ở VN hoạt động theo các nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường và không có sự can thiệp của Chính phủ đối với các khoản cho vay hoặc hoạt động vay tiền... Gần đây, chúng tôi đã thắt chặt chính sách tiền tệ và nâng lãi suất. Tôi nghĩ điều đó sẽ giúp các doanh nghiệp tiếp tục các dự án hiệu quả của họ và để loại bỏ mọi dự án không hiệu quả.
Việc của Đảng sẽ do nhân dân quyết định
- Nếu ngài cho phép, tôi muốn chuyển sang các vấn đề chính trị. Ngài có nghĩ cần phải dân chủ hóa hơn nữa để VN đạt được các mục tiêu kinh tế? Nếu vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ có thể sẵn sàng tiến hành những loại cải cách nào?
Trước khi trả lời câu hỏi của các bạn, tôi muốn nói thêm một điều... Chúng tôi đã nỗ lực kiểm soát lạm phát trong năm nay, nhằm đưa nó xuống mức thấp hơn năm 2007.
- Giữ lạm phát ở mức thấp hơn mức 2007?
Tôi muốn nói là ở mức dưới 12%.. Giờ tôi muốn chuyển sang các vấn đề chính trị. Như các bạn biết đấy, Việt Nam đang trong tiến trình cải cách toàn diện... nhằm xây dựng Việt Nam trở thành một đất nước dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh...
Trong 22 năm qua, GDP của chúng tôi đã tăng trưởng 7,5-8% mỗi năm. Chúng tôi đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường và chúng tôi đã thành công trong việc hội nhập mạnh mẽ với kinh tế thế giới. Thành công nhất đối với VN là trở thành thành viên của WTO và việc VN ký kết một loạt hiệp định hợp tác thương mại song phương với hầu hết các nước và các vùng lãnh thổ trên thế giới...
Trong quá khứ, chúng tôi đã theo đuổi mô hình kinh tế của Liên Xô và các nước Đông Âu. Sau 20 năm cải cách, chúng tôi đã đạt được sự tăng trưởng cao trong nhiều năm liên tục... Phúc lợi xã hội đã đến được với người nghèo và người nghèo được hưởng lợi từ sự phát triển. Tỷ lệ đói nghèo trong dân số đã giảm từ 60% trong năm 1993 xuống 14% và Việt Nam cũng đã đạt được hầu hết các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, thậm chí trước thời hạn...
Chúng tôi đã đạt được sự ổn định về chính trị và xã hội... và đất nước chúng tôi đã ổn định trong nhiều năm. Nhân dân chúng tôi đã đặt niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Chính phủ. Các cuộc cải cách chính trị đã được tiến hành cùng với cải cách kinh tế và xã hội. Và chúng tôi đã biến VN thành một quốc gia pháp quyền và một quốc gia của dân, do dân và vì dân. Quyền tối cao thuộc về nhân dân chúng tôi. Chẳng hạn Quốc hội Việt Nam đại diện cho tiếng nói và quyền lực của nhân dân Việt Nam.
...Tóm lại, tôi muốn nói rằng các cuộc cải cách chính trị ở VN đã được tiến hành liên tục trong những năm qua, theo các cuộc cải cách kinh tế, xã hội và văn hóa, cũng như bối cảnh lịch sử của Việt Nam. Mọi người dân Việt Nam luôn nhất trí với đường lối và chính sách của đội ngũ lãnh đạo của chúng tôi và 87 triệu dân VN đã đồng lòng với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam.
- Tôi có thể hỏi ngài một câu hỏi cụ thể được không? Rõ ràng là VN đã từ bỏ hệ thống kinh tế Liên Xô mà ngài đề cập tới . Tôi nghĩ có nhiều câu hỏi hơn về liệu VN đã thực sự từ bỏ hệ thống chính trị kiểu Liên Xô hay chưa. Ngài có nghĩ rằng có thể một ngày nào đó, chẳng hạn, Đảng Cộng sản có thể đổi tên với lý do rõ ràng là về kinh tế đảng không còn là cộng sản theo nghĩa hệ tư tưởng?
"Trong 20 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công trong việc lãnh đạo nhân dân VN chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành tựu quan trọng. Do vậy, với bằng chứng và những việc mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm trong quá khứ, nhân dân VN đặt niềm tin của họ vào Đảng và ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam".
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng
Như các bạn biết đấy, tên của Đảng của Việt Nam là Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng của chúng tôi đã được lựa chọn bởi quyết định của nhân dân VN và đã được thành lập theo bối cảnh lịch sử và xã hội ở VN....
Tôi nghĩ việc đổi tên Đảng của chúng tôi sẽ do nhân dân chúng tôi quyết định. Nhân dân VN luôn ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam bởi những mục tiêu mà Đảng của chúng tôi đã đặt ra để xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.
Chúng ta nên nhìn vào 80 năm qua, chúng ta nên nhìn vào lịch sử của VN và khi Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập để lãnh đạo nhân dân VN đấu tranh giành độc lập, tự do và thống nhất. Chúng tôi cũng đã nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp và Mỹ. Chúng tôi đã mất gần một thế kỷ cũng như hàng triệu mạng sống của người dân VN để giành lại tự do và độc lập.
Trong 20 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thành công trong việc lãnh đạo nhân dân VN chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường với nhiều thành tựu quan trọng. Do vậy, với bằng chứng và những việc mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm trong quá khứ, nhân dân VN đặt niềm tin của họ vào Đảng và ủng hộ Đảng Cộng sản Việt Nam.
"Tôi tin rằng VN có một tương lai tươi sáng"
Tôi muốn hỏi ngài một câu hỏi cá nhân... Khi ngài nhìn lại tuổi trẻ, ngài có bao giờ nghĩ ngài sẽ trở thành Thủ tướng của một nước Việt Nam thống nhất? Khi ngài nghỉ hưu, ngài mong đợi đạt được điều gì khi làm Thủ tướng của Việt Nam?
Tôi gia nhập quân ngũ năm 1961 và ở trong quân ngũ cho tới năm 1984. Tôi cũng là một chiến sĩ ở chiến trường miền Nam Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Tôi ra trận để giành lại độc lập cho Tổ quốc. Tôi cũng tham gia các chiến dịch giúp nhân dân Campuchia loại bỏ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ.
Khi ở trong quân ngũ, tôi đã bị thương bốn lần. Trên thân thể tôi có hơn 30 vết thương và tôi được xếp hạng thương binh loại hai. Thương binh hạng một có những vết thương nặng nhất. Do vậy, điều đó có nghĩa là tôi đã mất hơn 60% khả năng làm việc.
Dường như giờ ngài khỏe hơn nhiều!
Tôi nói về vấn đề này bởi tôi muốn giải thích với các bạn rằng vào thời điểm đó tôi không thể tưởng tượng rằng tôi có thể sống sót hoặc tôi có thể giúp bạn bè Campuchia của chúng tôi loại bỏ chế độ Khmer Đỏ. Và vào thời điểm đó, tôi không bao giờ nghĩ rằng tôi sẽ là Thủ tướng của Việt Nam...
Theo luật lao động của Việt Nam, tuổi nghỉ hưu là 60 và năm nay tôi đã 59 tuổi rồi. Điều đó có nghĩa là theo luật tôi chỉ còn có một năm nữa.
Tôi chắc họ sẽ yêu cầu ngài tiếp tục lãnh đạo?
Tôi nghĩ việc nghỉ hưu của tôi sẽ do nhân dân và Quốc hội của chúng tôi quyết định, bởi nhiệm kỳ của nội các hiện nay kéo dài từ 2007 tới 2011. Là Thủ tướng, trong suốt nhiệm kỳ, cùng với các thành viên của nội các, tôi sẽ làm những nhiệm vụ sau:
Trước tiên, chúng tôi sẽ tiếp tục đảm bảo sự tăng trưởng kinh tế cao cho VN, từ 8 tới 9% mỗi năm trong những năm tiếp theo.
Thứ hai, chúng tôi sẽ tập trung vào việc cải thiện tiêu chuẩn sống của người dân và cải thiện phúc lợi xã hội, đặc biệt là các hệ thống giáo dục và chăm sóc y tế. Chúng tôi sẽ giảm tỷ lệ đói nghèo ở Việt Nam xuống dưới mức 10%.
Thứ ba, chúng tôi sẽ xây dựng Chính phủ Việt Nam là một Chính phủ mạnh để ngăn chặn và loại bỏ tham nhũng.
Thứ tư, nhiệm vụ của chúng tôi là giữ vững ổn định chính trị, cùng với dân chủ cho tất cả mọi người. Ngoài ra, chúng tôi cũng sẽ tập trung vào nhiệm vụ duy trì quốc phòng và an ninh.
Thứ năm, Việt Nam sẽ là một nền kinh tế thị trường với sự hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới. Việt Nam sẽ là một người bạn và đối tác đáng tin cậy với mọi quốc gia và dân tộc trên thế giới, nỗ lực vì hòa bình, ổn định và phát triển.
Đây là những nhiệm vụ mà tôi và các thành viên trong nội các của tôi sẽ làm và cố gắng thực hiện trong nhiệm kỳ này. Tôi tin tưởng rằng chúng tôi sẽ có thể làm cho tất cả những nhiệm vụ này trở thành hiện thực.
Đây là những trách nhiệm rất nặng nề. Tôi tự hỏi cái gì khiến ngài thức giấc vào ban đêm. Liệu đó có phải là bóng ma lạm phát, hay là cúm gia cầm...? Ngài lo lắng nhất về những việc gì?
Với vai trò là Thủ tướng Chính phủ, tôi biết đây là một nhiệm vụ nặng nề song tôi tin chúng tôi có thể thực hiện tất cả các nhiệm vụ của chúng tôi dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chúng tôi cũng không quá lạc quan song tôi tin rằng VN có một tương lai tươi sáng.
Xin cảm ơn ngài Thủ tướng!
( Theo Minh Sơn (trích dịch từ Financial Times) // Vietnamnet)
Yếu kém trong việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ đang là yếu tố kìm hãm phát triển công nghiệp Việt Nam. Phóng viên Báo Đầu tư đã phỏng vấn ông Kitashima Satoshi, Đại diện Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tại TP.HCM về kế hoạch đầu tư của Nhật Bản trong năm 2009.
Phóng viên Báo Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Đỗ Văn Bạch, Đại sứ Việt Nam tại Nigeria về tiềm năng của thị trường Nigeria nói riêng và châu Phi nói chung đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Như tin chúng tôi đã đưa, chính sách bảo hiểm thất nghiệp sẽ được triển khai tại Việt Nam từ 1/1/2009. Để bạn đọc hiểu rõ hơn xung quanh chính sách này, VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Lê Quang Trung, Phó cục trưởng Cục Việc làm (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội).
Trao đổi với phóng viên báo Bình Dương, ông Nguyễn Trung Hiếu, Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh cho biết hiện dự án “Xây dựng vùng sản xuất rau an toàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2007-2010” đang chờ được cơ quan chức năng phê duyệt và dự kiến sẽ đi vào thực hiện đầu năm 2009. Ông Hiếu cũng nhìn nhận:
Những năm qua, kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu (BR-VT) luôn đạt mức tăng trưởng cao. Tuy nhiên, theo dự báo trong những năm tới, nằm trong tình hình khó khăn chung của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, hoạt động xuất khẩu của tỉnh sẽ gặp nhiều yếu tố bất lợi. Phóng viên Báo Bà Rịa - Vũng Tàu đã có cuộc trao đổi với ông Phan Văn Chinh, Phó Vụ trưởng phụ trách xuất nhập khẩu (Bộ Công thương) xung quanh vấn đề này, nhân dịp ông có chuyến công tác tại BR-VT vào đầu tháng 12 vừa qua.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú: Sau 2 năm Việt Nam gia nhập WTO, thách thức lớn nhất là phát triển cơ chế và phương tiện để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ trở thành các doanh nghiệp mạnh, có khả năng cạnh tranh
Nhiều khả năng sẽ tiếp tục có những dự án lớn được cấp phép ngay đầu năm 2009. Ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) khẳng định, sẽ không có hạn chế nào đối với các dự án đầu tư nước ngoài đáp ứng đủ các điều kiện về quy hoạch, các quy định pháp luật về đầu tư của Việt Nam.
Bên lề buổi làm việc giữa Thủ tướng với các tập đoàn và tổng công ty nhà nước sáng 16/12, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc đã trao đổi với báo giới về định hướng sử dụng nguồn vốn kích cầu sắp tới.
Theo TS. Cao Sĩ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thủ đoạn của Madoff trong vụ lừa đảo 50 tỉ USD là lấy vốn của người này trả cho người kia với mức lãi cao. Ông cũng cho rằng, "mồi" lãi suất là công cụ quen thuộc mà hình thức “tín dụng đen” sử dụng để "bẫy" không chỉ người dân mà ngay cả các quỹ đầu tư lớn, các ngân hàng sừng sỏ trên thế giới.
Sau khi quyết định sử dụng 1 tỉ USD để kích cầu đầu tư, tiêu dùng, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch – Đầu tư (KH – ĐT) lên kế hoạch sử dụng số tiền này một cách hiệu quả. Dự kiến đến cuối tháng, kế hoạch chi tiết sẽ hoàn thành. Trả lời phỏng vấn Báo Người Lao Động, Bộ trưởng Bộ KH – ĐT Võ Hồng Phúc nói đang cân nhắc danh mục các nhóm dự án được tiếp cận nguồn vốn từ gói kích cầu này
Ngày 9-12, các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ đã có cuộc gặp gỡ với ông David Spooner, Trợ lý Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ (ảnh). Tại cuộc gặp này (do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức), ông David Spooner (ảnh) đã có cuộc trao đổi nhanh với báo chí xung quanh tình hình xuất khẩu dệt may vào Hoa Kỳ trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế.
Lãi suất (LS) cho vay tiếp tục giảm mạnh theo chủ trương nới lỏng chính sách tiền tệ của Chính phủ. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp (DN) và người dân vẫn khó tiếp cận được vốn từ các ngân hàng thương mại (NHTM). Xoay quanh thực trạng này, PV Báo SGGP đã có cuộc trao đổi với PGS-TS Trần Hoàng Ngân, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia (ảnh).
Đoàn doanh nghiệp bán lẻ ở London (Anh) do ông Neil Wynn-Jones, cố vấn thương mại quốc tế cao cấp của cơ quan thương mại và đầu tư vương quốc Anh (UKTI) dẫn đầu đang có chuyến tìm hiểu thị trường đầu tư và tìm kiếm đối tác từ ngày 16 – 21.11 tại Hà Nội và TP.HCM. SGTT phỏng vấn ông Neil Wynn-Jones dịp này.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.