Nhiều năm qua, khi hướng mạnh vào mục tiêu tăng xuất khẩu, việc phát triển thị trường nội địa đã chưa được đầu tư thỏa đáng.
Theo ông Nguyễn Lộc An, Phó Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước, Bộ Công Thương, cần nhận thức rằng phát triển thị trường nội địa trong thời kỳ hội nhập không có nghĩa là ưu tiên phát triển công nghiệp thay thế nhập khẩu, mà cần xem đó là điểm tựa để các doanh nghiệp Việt Nam vững tin đi ra biển lớn.
Ông đánh giá thế nào về sự phát triển của thị trường nội địa trong thời gian qua, nhất là sau cuộc khủng hoảng kinh tế lan rộng tại nhiều thị trường xuất khẩu chủ lực của Việt Nam?
Ông Nguyễn Lộc An: Theo số liệu thống kê năm 2009 thì bình quân mỗi người dân Việt Nam đã chi tiêu cho hàng hóa và dịch vụ khoản tiền là 438.000 đồng/năm. Năm 2010, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ 1.565.189 tỷ đồng tăng 28,87% so với năm 2009, còn tổng mức bán lẻ và doanh thu dịch vụ xã hội năm 2011 ước đạt 2.004.361 tỷ đồng, tăng 24,18% so với năm 2010 (nếu loại trừ yếu tố tăng giá thì mức tăng chỉ 4,7%).
Điều đó cho thấy niềm tin và nhu cầu của người tiêu dùng Việt Nam có rất nhiều triển vọng nhưng so với quy mô dân số trên 86 triệu người thì mức chi như trên vẫn còn khá khiêm tốn, tiềm năng của thị trường nội địa cho doanh nghiệp còn rất lớn.
Sự tăng trưởng của thị trường nội địa mấy năm qua chủ yếu dựa vào sự tăng trưởng chi tiêu của người tiêu dùng đô thị, trong khi thị trường nông thôn chiếm đến 70% dân số cả nước với quy mô tiêu dùng cao gấp 3 lần so với thành thị nhưng đến thời điểm này vẫn chưa được khai thác triệt để.
Về hệ thống phân phối, mặc dù các hình thức phân phối hàng hoá và dịch vụ ở nước ta đang dần thay đổi (năm 1995 Việt Nam chỉ có 10 siêu thị và hai trung tâm thương mại, đến năm 2007 có ít nhất 140 siêu thị, 20 trung tâm thương mại, đến năm 2011 đã có khoảng 638 siêu thị, 117 trung tâm thương mại cùng với khoảng 8.653 chợ các loại).
Tuy nhiên, trong giai đoạn vừa qua, loại hình phân phối hiện đại đã có tốc độ phát triển nhanh, hình thức kinh doanh truyền thống vẫn đang là nền tảng của thị trường kinh doanh bán lẻ ở nước ta, với 90% hàng hóa được lưu thông tại các chợ truyền thống và những cửa hàng mặt tiền.
Do vậy, thị trường rất dễ bị tổn thương khi có những biến động và kiểm soát thị trường là rất khó. Đơn cử, cơn sốt giá gạo năm 2008 có nguyên nhân chính là do mạng lưới phân phối trong nước yếu kém, không được tổ chức và thiết kế để trở thành những hệ thống phân phối chuyên nghiệp.
Còn về sản phẩm trên thị trường nội địa thì dù doanh nghiệp Việt Nam đã sản xuất được rất nhiều mặt hàng thay thế hàng nhập khẩu, nhưng việc tiêu thụ những mặt hàng này ở nước ta còn rất khiêm tốn, không đúng tiềm năng.
Chẳng hạn sản lượng cà phê ở nước ta hàng năm thu hoạch được 700.000 - 800.000 tấn thì lượng cà phê tiêu thụ nội địa chỉ đạt gần 3,6% trong khi theo đánh giá có thể đạt mức khoảng 10% hay mỗi năm thị trường dệt may nội địa chỉ tăng trưởng 15%, trong khi ngoài 86 triệu dân, Việt Nam còn có khoảng trên sáu triệu khách du lịch mỗi năm...
Xác định tầm quan trọng của thị trường nội địa như vậy, thì với đặc thù của Việt Nam, Bộ Công Thương dành ưu tiên cho những chính sách nào, thưa ông?
Ông Nguyễn Lộc An: Để xây dựng chiến lược phát triển thị trường nội địa, trước hết chúng ta cần nghiên cứu và phân tích kỹ những cam kết mở cửa dịch vụ phân phối mà nước ta đã cam kết khi gia nhập WTO.
Kinh nghiệm trên toàn thế giới từ nhiều năm nay cho thấy những nước đi theo con đường phát triển công nghiệp thay thế nhập khẩu luôn luôn có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, năng lực cạnh tranh quốc gia yếu kém, sử dụng tài nguyên, nhân lực và đồng vốn kém hiệu quả hơn so với những nước chọn con đường phát triển kinh tế theo hướng xuất khẩu.
Nhiều nước như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Hong Kong, Đài Loan, Singapore và gần đây là Trung Quốc là những trường hợp điển hình thành công của chiến lược phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu.
Trong khi đó, Brazil, Argentina là cái nôi của lý thuyết phát triển dựa vào thị trường nội địa - cũng phải từ bỏ chiến lược phát triển hướng nội để đi theo con đường xuất khẩu, hướng vào thị trường thế giới.
Còn ở nước ta, nếu các doanh nghiệp chỉ hướng vào chiếm lĩnh thị trường nội địa mà không còn chú trọng đến xuất khẩu, tình trạng nhập siêu sẽ ngày càng tăng, dự trữ ngoại tệ quốc gia ngày càng cạn, thiếu ngoại tệ để làm nguồn vốn cho phát triển kinh tế sau này.
Do vậy, với đặc thù của Việt Nam, cần có những giải pháp đồng bộ từ khâu sản xuất nhằm nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm đến khâu xây dựng hệ thống phân phối sản phẩm, thay đổi tâm lý và thói quen của người tiêu dùng.
Ông có thể nói cụ thể hơn về những định hướng và chính sách cần phải tập trung và tháo gỡ trong thời gian tới?
Ông Nguyễn Lộc An: Theo tôi, trong đó, về phía nhà nước, trong bối cảnh hiện nay, cần tháo gỡ cho các doanh nghiệp những khó khăn về lãi suất, quyền sở hữu tài sản được bảo vệ, bộ máy hành chính tốt, một lực lượng lao động được đào tạo và có kỷ luật cao, một mức lạm phát thấp và một cơ chế vận hành thị trường nội địa phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Về lâu dài, hoàn thiện hệ thống chính sách chống hàng lậu, hàng giả và ủng hộ hàng Việt Nam. Tập trung vào việc nghiên cứu thị trường, nghiên cứu nhu cầu tiêu dùng. Về lâu dài, xây dựng quy hoạch tổng thể và kế hoạch phát triển mạng lưới phân phối trên thị trường nội địa, trong đó cần đặc biệt chú ý thị trường nông thôn.
Bám vào định hướng trên thì thời gian tới, việc hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam trong việc hợp tác xây dựng hệ thống phân phối ngành hàng theo kế hoạch phát triển mạng lưới, nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có thể chiếm lĩnh được những vị trí đắc lợi trong mạng lưới phân phối sẽ là một ưu tiên.
Theo dự báo, năm 2012, trước những biến động của thế giới dự kiến tổng mức bán lẻ thị trường nội địa ước đạt khoảng 100 tỷ USD. Trong giai đoạn 2011 - 2020 dự kiến tăng trưởng 10% bình quân/1 năm, tỷ trọng lưu chuyển hàng hóa trong nước chiếm khoảng 20% của GDP.
Thực tế hiện nay, thị trường bán lẻ Việt Nam vẫn là một trong những thị trường hấp dẫn đối với các tập đoàn bán lẻ nước ngoài. Nếu doanh nghiệp trong nước không tự chủ, khó có thể cạnh tranh được với những tập đoàn lớn của nước ngoài.
Ở góc độ doanh nghiệp, cần nhận thức rằng việc hạn chế hoặc chấm dứt nhập khẩu những loại mặt hàng trong nước đã sản xuất ổn định và đạt tiêu chuẩn là mục tiêu rất quan trọng để phát triển thị trường nội địa.
Đặc biệt, chiến lược phân lớp thị trường, xác định đúng đối tượng khách hàng phù hợp với chiến lược phát triển, với lợi thế và khả năng của mình, trong đó hướng vào các phân khúc thị trường nhất là những sản phẩm cho những người có thu nhập trung bình và thấp (chiếm đến 90% dân số) sẽ là yếu tố thành công nhất.
Nếu được chấp thuận cho đầu tư, nhiều khả năng sắp tới Việt Nam sẽ đón nhiều dự án casino với số vốn lên tới hàng tỷ USD. Liệu Việt Nam có nên "mở cửa" cho các dự án casino? Trò chuyện với GS.TS Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội DN đầu tư nước ngoài (VAFIE).
Tôi có nhiều người bạn quốc tế có trình độ cao, có thu nhập lớn, trong đó có những người là tỷ phú, họ cực kỳ ngạc nhiên trước sự tiêu xài của không ít người Việt.
Khẳng định quyết tâm kiềm chế lạm phát của Chính phủ là hoàn toàn đúng đắn, nhưng TS. Bùi Đức Thụ, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội, cho rằng với cách thắt chặt tiền tệ hiện nay sẽ dẫn đến sự ngột ngạt cho cả nền kinh tế.
TS Trần Đình Thiên cho rằng, với mục tiêu lạm phát dưới 10% nhưng lạm phát phải giảm sâu hơn xuống mức 5 - 7% thì doanh nghiệp mới trụ được trong năm "cắn răng vượt khó" này.
Việt Nam đã bỏ mất nhiều cơ hội do môi trường pháp lý chậm cải thiện, kéo dài chính sách đối xử phân biệt với nước ngoài và chính sách công nghiệp không rõ ràng, thay đổi thường xuyên. Chưa kể, chúng ta còn phải đối mặt với những nguy cơ khi lệ thuộc quá nhiều vào một nền kinh tế.
Trong một thế giới thay đổi nhanh chóng và mạnh mẽ, khi nền kinh tế phát triển đến ngưỡng nhất định thì không thể dựa vào những lợi thế so sánh cũ mà cần tạo lập và phát triển những lợi thế mới. Vì thế, ngay cả khi không có sóng gió nặng nề như mấy năm qua, Việt Nam vẫn phải tái cấu trúc nền kinh tế.
Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Văn Ninh khẳng định: Vượt qua khó khăn, Chính phủ đã, đang và sẽ chèo lái “con thuyền kinh tế VN” vượt đại dương, tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, bảo đảm lợi ích quốc gia, đáp ứng niềm tin và sự kỳ vọng của nhân dân cả nước.
2011 là một năm đầy dấu ấn và mang tính bước ngoặt, là thời điểm chín muồi để khởi đầu cho bước đường đổi mới hệ thống tài chính VN trong năm 2012 - 2015.
Trước thềm năm mới Nhâm Thìn, nguyên Phó thủ tướng Vũ Khoan nhận định về năm 2011 và cho rằng năm tới nên là năm nền kinh tế VN chuyển mình theo mục tiêu tái cơ cấu nền kinh tế. "Cái khó chủ yếu do nội tại của chúng ta, nên không thể chờ đợi gì ngoài việc tự thay đổi".
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.