Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài Đỗ Nhất Hoàng - Ảnh: Anh Quân.
Nhận chức Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tại giai đoạn hậu suy thoái kinh tế toàn cầu, ông Đỗ Nhất Hoàng có những vấn đề riêng phải giải quyết.
Nổi bật trong số đó, là chuyện doanh nghiệp FDI chậm triển khai sau khi được cấp giấy chứng nhận đầu tư, những vụ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng bị dư luận lên án, cũng như quy trình thu hút FDI chưa có sự quản lý chặt chẽ.
Lần đầu tiên trả lời câu hỏi của báo giới và một số chuyên gia tại hội thảo "Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thời kỳ hậu khủng hoảng kinh tế", được tổ chức sáng 21/5 tại Hà Nội, ông Hoàng tỏ ra khá thẳng thắn.
Phải tính lại cách thức xem xét dự án
Theo ông, vì sao gần đây lại xuất hiện nhiều dự án FDI chậm tiến độ, đặc biệt là các dự án quy mô lớn về vốn, huy động nhiều đất?
Có nguyên nhân, quá trình vừa qua chúng ta đã bỏ qua khâu kiểm tra năng lực tài chính nên có chuyện dự án thì lớn nhưng lại không đủ năng lực tài chính.
Trong khi các địa phương, quỹ đất thì ít, ngày càng hiếm, có thể người ta cũng biết nhà đầu tư không đủ năng lực tài chính, nhưng vì không còn tiêu chí ấy, nên lấy căn cứ vào đâu để nói nhà đầu tư không được phép?
Cho nên, bây giờ phải tính lại cách thức xem xét đối với các dự án, đặc biệt là các dự án sử dụng nhiều đất. Ví dụ, các địa phương hiện nay đã tự đưa ra tiêu chí là suất đầu tư, như là 1 ha đất phải đầu tư 5 triệu USD mới cho phép chẳng hạn.
Một số địa phương đã chủ động đưa ra tiêu chí này, để quản lý lành mạnh hơn môi trường đầu tư, ưu tiên cho những nhà đầu tư có thực lực, làm thật, bởi vì, dự án còn tác động đến cộng đồng. Ví dụ một dự án thu hồi đất lớn như thế, giải phóng mặt bằng xong còn ảnh hưởng đến công ăn việc làm, đến đời sống xã hội tại địa phương…
Nhưng chuyện chậm triển khai đã rõ, nhùng nhằng mãi các cơ quan chức năng vẫn chưa rút được giấy phép, thưa ông?
Việc thu hồi giấy phép hay xử lý một dự án phải căn cứ theo quy định của pháp luật. Nếu nhà đầu tư có giải trình lý do hợp lý, các cơ quan liên quan phải qua một quá trình xem xét rất nghiêm túc, thì có thể người ta thấy rằng có những lý do có thể chấp nhận được. Đấy là phải vào từng tình huống cụ thể.
Về nguyên tắc, những dự án vi phạm pháp luật nghiêm trọng, hoặc không triển khai quá 12 tháng không có lý do chính đáng và được gia hạn, thì các cơ quan nhà nước có quyền thu hồi. Nhưng trên thực tế, có địa phương xử lý rất mạnh vấn đề này, có địa phương thì vì nhu cầu đầu tư của tỉnh mình mới ở giới hạn nhất định, cũng phải mời nhà đầu tư lên, xem họ có thật sự triển khai không.
Nếu thực sự họ muốn triển khai nhưng do các yếu tố khách quan, do ảnh hưởng của suy thoái toàn cầu đến công ty mẹ mà họ phải điều chỉnh, thì có thể được gia hạn một thời gian. Giải quyết vấn đề này thì phải căn cứ vào tình hình cụ thể của từng dự án, từng trường hợp cụ thể.
Vậy với trường hợp tỉnh Quảng Nam đã ra “tối hậu thư” với dự án Bãi biển Rồng tổng vốn 4,1 tỷ USD, nếu quá 15/5 không hoàn thành thủ tục và triển khai đầu tư sẽ thu hồi giấy phép thì thế nào?
Đó là ví dụ về các giải pháp của địa phương, tức là anh vào dự án lớn, chiếm nhiều đất, có tác động xã hội lớn thì có thể người ta đưa ra các quy định, những hạn chế để mà bắt buộc nhà đầu tư thực hiện đúng tiến độ đã cam kết. Và nếu vi phạm thì cơ quan nhà nước có thể thu hồi giấy phép.
Đấy cũng là tình hình chung tại nhiều dự án bất động sản vốn lớn gần đây, thưa ông?
Nói chung, những dự án lớn thì có tiến độ giải ngân, quá trình xây dựng dài. Trong hồ sơ dự án đã có lộ trình và quy định chặt trong giấy chứng nhận đầu tư. Đây là một nội dung rất qua trọng, khi bỏ tiêu chí kiểm tra năng lực tài chính thì nhà đầu tư chỉ được khóa bằng tiến độ thực hiện dự án, trong giấy chứng nhận đầu tư.
Cơ quan cấp giấy chứng nhận đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư căn cứ vào tiến độ đầu tư đã đăng ký và được chốt trong giấy chứng nhận đầu tư để theo dõi. Nếu nhà đầu tư vượt quá, hoặc vi phạm thì người ta có quyền thu hồi.
Còn nếu có những tình huống mà nhà đầu tư có lý do chính đáng thì các cơ quan có thẩm quyền cũng có quy trình để xem xét, có thể là gia hạn hoặc xử lý thế nào đó phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể.
Sẽ hạn chế ưu đãi đầu tư tràn lan
Gần đây, nhiều doanh nghiệp FDI bị phát hiện gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Theo ông, liệu có chuyện đầu tư theo kiểu tàn phá môi trường từ các nhà đầu tư nước ngoài?
Câu chuyện doanh nghiệp FDI gây ô nhiễm môi trường bùng nổ từ sau vụ Vedan. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng vụ việc Vedan chỉ là lời cảnh tỉnh thôi, chứ còn doanh nghiệp của Việt Nam cũng gây ô nhiễm môi trường rất nhiều.
Sau vụ việc này, các cấp chính quyền, địa phương và xã hội quan tâm rất nhiều đến vấn đề môi trường. Ví dụ, tại Đồng Nai có chủ trương là, các khu công nghiệp không nhận thêm bất kể dự án nào nếu như không có trạm xử lý chất thải, hoặc nếu đã có mà công suất không đáp ứng nổi đầu tư tiếp theo.
Để xử lý được vấn đề môi trường, tôi nghĩ rằng phải xử lý trên mọi phương diện, mọi lĩnh vực. Trong đầu tư nước ngoài, sau khi cải cách thủ tục hành chính, tiêu chí thẩm tra rất đơn giản, có 4 nội dung liên quan đến quy hoạch, tiến độ, môi trường…
Vì cho rằng môi trường là vấn đề quan trọng nhất nên đây là một tiêu chí riêng trong thẩm tra. Ngoài ra, vấn đề môi trường còn được thực thi trong quá trình hậu kiểm nữa. Hiện vẫn đang diễn ra quá trình chấn chỉnh lại hoạt động môi trường.
Tuy nhiên, ở đây có câu chuyện là chế tài về môi trường đối với nhà đầu tư. Theo tôi được biết thì chế tài hiện nay quá thấp nên còn thiếu tính răn đe.
Ngoài ra, chúng tôi cũng đang tiến hành nghiên cứu để đưa ra một tiêu chí nào đó về công nghệ, để ngăn chặn những tác hại có thể có đối với môi trường.
Đối với chuyện doanh nghiệp FDI phá vỡ quy hoạch, ý kiến của ông thế nào?
Liên quan đến cơ cấu vùng miền, cơ cấu đầu tư, chúng tôi cũng chia sẻ quan điểm đó. Khi nghiên cứu các nước xung quanh, người ta không có ưu đãi tràn lan như chúng ta, mà quy hoạch theo vùng, chứ không theo tỉnh.
Chúng ta thì tỉnh nào cũng có các huyện để mà làm, có huyện khó khăn, xã khó khăn để mà tương ứng với nó là ưu đãi. Chúng tôi, theo góc độ nghiên cứu riêng thì có quan điểm là cũng không nên ưu đãi tràn lan.
Điều này, khi điều chỉnh thuế thu nhập doanh nghiệp đã có một chút thay đổi, dù mới điều chỉnh dừng ở mức các lĩnh vực ưu đãi đầu tư thôi, giảm từ khoảng 100 lĩnh vực có ưu đãi đầu tư xuống còn 7 lĩnh vực chính, tức là không ưu đãi tràn lan nữa.
Còn về địa bàn ưu đãi đầu tư, cũng còn đang phải xử lý từ từ. Ví dụ, quan điểm của chúng tôi, cũng không nhất thiết phải ưu đãi vùng sâu, vùng xa khi mà đầu tư khoáng sản, bởi vì đã đầu tư khoáng sản thì phải vào những vùng như thế. Doanh nghiệp bây giờ, khoáng sản đã giảm nhiều phải đi ra nước ngoài khai thác, mà chúng ta lại còn ưu đãi nữa thì không được.
Chúng ta đang có chủ trương, từng lĩnh vực một có hạn chế lại, không có ưu đãi tràn lan nữa, dùng biện pháp hành chính để làm sao khuyến khích, để cơ cấu lại hoạt động đầu tư này.
PSG TS. Trần Hoàng Ngân, Phó hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP.HCM, đồng thời là thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cho rằng, nếu không có sự can thiệp của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), thì tỷ giá hối đoái trong thời gian qua có thể còn giảm.
Những công cụ để kiểm soát thị trường của chúng ta hiện quá nghèo nàn. Chỉ riêng với giá sữa, bao nhiêu khúc mắc, bao nhiêu bức xúc, bao nhiêu bất cập đều được kỳ vọng vào việc chờ thay đổi nội dung của một cái thông tư!
Mặc dù không đánh thuế đối với nhà ở của tổ chức, cá nhân, nhưng trao đổi với phóng viên Báo Đầu tư tại hành lang Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh cho biết, không vì thế mà ngân sách không điều tiết được đối với những người sở hữu nhiều nhà ở có giá trị lớn.
Tình trạng khai thác khoáng sản đang diễn ra tràn lan trên khắp cả nước. Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, ông Hà Văn Hiền khẳng định, tình trạng này sẽ được chấn chỉnh khi Luật Khoáng sản (sửa đổi) có hiệu lực. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng, “chấn chỉnh không có nghĩa là đóng cửa”.
Bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo sự phát triển an toàn hệ thống tài chính quốc gia là vấn đề quan tâm của Chính phủ, đặc biệt trong bối cảnh thị trường Tài chính ngân hàng quốc tế vừa trải qua cơn đại khủng hoảng.
Trong hội trường, thảo luận về tình hình kinh tế xã hội ngày 27/5, đại biểu Quốc hội phàn nàn về ứng xử của ngành điện trước tình trạng thiếu điện khiến doanh nghiệp và người dân điêu đứng.
Dự thảo Luật NHNN VN (sửa đổi), Luật các Tổ chức tín dụng (sửa đổi) đã được đưa ra thảo luận tại kỳ họp thứ 7 Quốc hội khóa XII. Dự kiến, đây là hai trong 10 dự án luật được thông qua tại kỳ họp này. Tuy nhiên, với lĩnh vực có tác động rất lớn đến hoạt động của nền kinh tế, Dự thảo Luật (sửa đổi) vẫn còn nhiều điểm còn bàn cãi.
Trả lời phỏng vấn của phóng viên Dân trí về vấn đề giao thông trong đồ án quy hoạch chung Hà Nội, Bộ trưởng GTVT Hồ Nghĩa Dũng đã bày tỏ như vậy. Ông Dũng cũng cho rằng, không thể sớm giải quyết vấn đề ách tắc giao thông của Thủ đô…
Bác bỏ khả năng thắt chặt chính sách tiền tệ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Giàu cũng khẳng định sẽ xử lý nghiêm những ngân hàng thương mại đi ngược lại chủ trương hạ lãi suất của Chính phủ.
Nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên liệu nước ngoài quá nhiều, do đó, khi hạ giá VND, giá hàng hóa nguyên liệu nhập khẩu sẽ cao, giá thành sản xuất hàng xuất khẩu sẽ tăng. Thêm vào đó, việc hạ giá VND cũng không có lợi cho việc xuất khẩu gạo, cà phê, khoáng sản. Đáng chú ý, việc hạ giá VND còn làm tăng giá hàng tiêu dùng nhập khẩu, vì vậy sẽ đẩy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) lên cao.
Trao đổi với báo chí bên lề kỳ họp Quốc hội ngày 25/5 quanh dự án đường sắt cao tốc Hà Nội-TP.Hồ Chí Minh, Bộ trưởng Bộ GTVT Hồ Nghĩa Dũng khẳng định, Bộ sẽ nghe và tiếp thu các ý kiến từ nhiều phía và cân nhắc kỹ.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.