Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú: Sau 2 năm Việt Nam gia nhập WTO, thách thức lớn nhất là phát triển cơ chế và phương tiện để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ trở thành các doanh nghiệp mạnh, có khả năng cạnh tranh
“Môi trường thương mại Việt Nam sau 2 năm gia nhập WTO” là chủ đề cuộc hội thảo diễn ra chiều 19/12 tại Hà Nội. Hội thảo là dịp để các nhà hoạch định chính sách, cơ quan quản lý, cơ quan giám sát và cộng đồng doanh nghiệp cùng trao đổi về cơ hội và thách thức sau 2 năm Việt Nam gia nhập WTO, từ đó góp phần tìm ra các giải pháp hội nhập kinh tế quốc tế vững chắc và có hiệu quả.
Phát biểu tại hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Cẩm Tú cho biết: Hai năm qua, Việt Nam đã tập trung thực hiện đúng các cam kết đa phương và các cam kết mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ cũng như các biện pháp cải cách đồng bộ nhằm tận dụng tốt các cơ hội và vượt qua thách thức trong giai đoạn hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu.
Từ năm 2000, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra hàng loạt những cải cách mà nhờ đó đã cải thiện đáng kể môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp. Với việc trở thành thành viên của WTO và áp lực cạnh tranh ngày càng tăng, những cải cách này thậm chí càng trở nên quan trọng hơn.
Gia nhập WTO mở ra những cơ hội cho các doanh nghiệp nhưng cũng đi kèm với sự cạnh tranh và đe dọa nhiều hơn.
Còn nhiều thách thức
Theo Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú, sau 2 năm gia nhập WTO, thách thức lớn nhất là phát triển cơ chế và phương tiện để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và rất nhỏ trở thành các doanh nghiệp mạnh, có khả năng cạnh tranh. Trong việc thúc đẩy tăng cường của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, điều quan trọng là đảm bảo rằng họ thực sự tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có thể bán được và chỉ dừng lại ở việc lập dự án. 97% doanh nghiệp Việt Nam là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đây không phải là một tỷ lệ khác thường, nhưng tại Việt Nam, khác biệt giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa (thường là quy mô nhỏ), với các doanh nghiệp lớn hơn là đáng kể.
Tại hội thảo các đại biểu đều cho rằng, tất cả những ảnh hưởng tiêu cực đối với nền kinh tế từ việc gia nhập WTO sẽ ảnh hưởng đến hoạt động và sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp Việt Nam. Trong đó không thể không nói đến việc các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ các đối thủ cạnh tranh nước ngoài do sự nhanh chóng tự do hóa thị trường trong nước, bao gồm cả những lĩnh vực nhạy cảm và còn non trẻ. Phạm vi giảm thuế rộng ảnh hưởng đáng kể đến nguồn thu thuế hiện đang chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu ngân sách của Chính phủ.
Dòng vốn đổ vào có thể mang theo những rủi ro và làm trầm trọng thêm những yếu kém nội tại về cơ cấu và kinh tế vĩ mô, đặc biệt là những với những dòng vốn chảy vào do đầu cơ có thể dễ dàng chảy ra nếu có những thay đổi về tình hình kinh doanh hay kỳ vọng của các nhà đầu tư.
Đối với các dịch vụ phân phối, các doanh nghiệp nước ngoài sẽ được phép tham gia trong lĩnh vực bán lẻ đối với tất cả các sản phẩm nhập khẩu hợp tác và sản xuất trong nước, từ 10 sản phẩm nhạy cảm đối với nền kinh tế. Cả 10 sản phẩm này cũng sẽ được cho phép trong những năm tới. Do đó, đa số các hình thức phân phối hàng hóa và dịch vụ được thực hiện thông qua các cơ sở thương mại cá thể nhỏ của Việt Nam sẽ khó cạnh tranh được với các trung tâm phân phối lớn, bán hàng hóa với giá cả hấp dẫn và kinh doanh thương mại hiệu quả hơn nhờ vào kinh tế quy mô…
Theo Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú: Khi Việt Nam tham gia nhiều hơn vào quá trình toàn cầu hóa sau khi trở thành thành viên WTO, nền kinh tế sẽ chịu ảnh hưởng nhiều hơn từ các biến cố của nền kinh tế thế giới. Theo truyền thống, đồng tiền Việt Nam được gắn chặt với đồng USD, nhưng sự giảm giá gần đây của đồng USD đang khiến Chính phủ phải mở rộng sự kiềm tỏa để tạo điều kiện cho sự giao dịch giữa đồng VND và USD. Các nhà nhập khẩu Việt Nam đang nhận thấy những áp lực khiến thu nhập thấp hơn do USD giảm giá. Nỗi lo sợ về lạm phát cũng đe dọa sự phát triển bền vững chắc của khu vực doanh nghiệp.
Với chuyên đề về “Lựa chọn phát triển sau khi gia nhập WTO và trong điều kiện quốc tế mới”, Tiến sĩ luật Nguyễn Thị Vi cho rằng: Sau gần 2 năm gia nhập WTO, nền kinh tế Việt Nam đã gặp biết bao khó khăn do những bất ổn từ bên ngoài mang vào như sự dao động bất thường về giá cả của hàng loạt các mặt hàng xuất khẩu và phải nhập khẩu; áp lực từ các nguồn vốn bên ngoài rất lớn đối với ổn định vĩ mô trong điều kiện các thể chế quản lý về tài chính vốn đã yếu kém, nay càng trở nên trầm trọng… Bên cạnh những mất mát do sự dao động quá bất thường về giá cả giữa giá nguyên nhiên liệu và giá sản phẩm công nghiệp mà các nước đang phát triển phải nhập khẩu, giờ đây các nước này cũng phải gánh thêm những tổn thất về lạm phát, khủng hoảng tài chính từ các nước phát triển xuất khẩu ra bên ngoài. Những cạm bẫy vô hình này đang làm kiệt quệ mọi nguồn lực mà các nước đang phát triển đang nỗ lực lâu nay: tập trung thu hút đầu tư và hướng mạnh vào xuất khẩu; tiếp tục phát triển dựa trên tăng trưởng chủ yếu từ các khu vực kinh tế này bất chấp tài nguyên thiên nhiên, đất đai, nguồn nước ngày càng cạn kiệt và ô nhiễm.
Theo Tiến sĩ Nguyễn Thị Vi, ưu tiên cao đối với những nhà hoạch định chính sách là xây dựng một chiến lược phát triển dựa trên những nhu cầu đổi mới về các chính sách và thể chế lập pháp, tư pháp nội tại nhằm tạo môi trường tốt nhất cho đầu tư phát triển và phát huy được cao nhất sức sáng tạo trong quá trình tham gia toàn cầu hoá hiện nay.
Và cơ hội
Thứ trưởng Nguyễn Cẩm Tú cũng cho rằng, các tác động tiêu cực trên chỉ gây ra mối đe dọa cho các phương thức kinh doanh lâu năm và truyền thống và được bù đắp nhiều hơn bằng các cơ hội và tác động tích cực mà việc gia nhập WTO đem lại cho các doanh nghiệp. Gia nhập WTO được mong muốn sẽ cùng có lợi cho tất cả các bên, nếu không như vậy thì các nền kinh tế trên thế giới sẽ chẳng tha thiết yêu cầu được trở thành thành viên của tổ chức này. Sự cần thiết phải tuân thủ các cam kết WTO buộc các nước đang phát triển như Việt Nam phải tiến hành những cải cách quan trọng mà cuối cùng sẽ cải thiện môi trường kinh doanh. Với các thủ tục được chuẩn hóa và minh bạch hơn, quyền lợi của nhà đầu tư được đảm bảo hơn và sự phát triển được thúc đẩy thông qua thương mại, đầu tư và các cơ hội rộng mở hơn.
Từ góc độ nghiên cứu về thể chế và hệ thống pháp luật, nhiều tham luận đã đề cập sự lựa chọn phát triển kinh tế trong tình hình khủng hoảng tài chính kinh tế toàn cầu; Đặc biệt là những gợi mở về vấn đề về hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ hội nhập kinh tế quốc tế./.
Trong cuộc trả lời phỏng vấn với Thời báo Tài chính (Financial Times) nhân dịp chuyến thăm châu Âu, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã bày tỏ sự tin tưởng vào sự tăng trưởng kinh tế của VN. VietNamNet trích giới thiệu cuộc phỏng vấn.
Yếu kém trong việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ đang là yếu tố kìm hãm phát triển công nghiệp Việt Nam. Phóng viên Báo Đầu tư đã phỏng vấn ông Kitashima Satoshi, Đại diện Tổ chức Xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO) tại TP.HCM về kế hoạch đầu tư của Nhật Bản trong năm 2009.
Phóng viên Báo Đầu tư đã có cuộc trao đổi với ông Đỗ Văn Bạch, Đại sứ Việt Nam tại Nigeria về tiềm năng của thị trường Nigeria nói riêng và châu Phi nói chung đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam.
Như tin chúng tôi đã đưa, chính sách bảo hiểm thất nghiệp sẽ được triển khai tại Việt Nam từ 1/1/2009. Để bạn đọc hiểu rõ hơn xung quanh chính sách này, VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Lê Quang Trung, Phó cục trưởng Cục Việc làm (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội).
Trao đổi với phóng viên báo Bình Dương, ông Nguyễn Trung Hiếu, Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật tỉnh cho biết hiện dự án “Xây dựng vùng sản xuất rau an toàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2007-2010” đang chờ được cơ quan chức năng phê duyệt và dự kiến sẽ đi vào thực hiện đầu năm 2009. Ông Hiếu cũng nhìn nhận:
Nhiều khả năng sẽ tiếp tục có những dự án lớn được cấp phép ngay đầu năm 2009. Ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) khẳng định, sẽ không có hạn chế nào đối với các dự án đầu tư nước ngoài đáp ứng đủ các điều kiện về quy hoạch, các quy định pháp luật về đầu tư của Việt Nam.
Bên lề buổi làm việc giữa Thủ tướng với các tập đoàn và tổng công ty nhà nước sáng 16/12, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc đã trao đổi với báo giới về định hướng sử dụng nguồn vốn kích cầu sắp tới.
Theo TS. Cao Sĩ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thủ đoạn của Madoff trong vụ lừa đảo 50 tỉ USD là lấy vốn của người này trả cho người kia với mức lãi cao. Ông cũng cho rằng, "mồi" lãi suất là công cụ quen thuộc mà hình thức “tín dụng đen” sử dụng để "bẫy" không chỉ người dân mà ngay cả các quỹ đầu tư lớn, các ngân hàng sừng sỏ trên thế giới.
Sau khi quyết định sử dụng 1 tỉ USD để kích cầu đầu tư, tiêu dùng, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch – Đầu tư (KH – ĐT) lên kế hoạch sử dụng số tiền này một cách hiệu quả. Dự kiến đến cuối tháng, kế hoạch chi tiết sẽ hoàn thành. Trả lời phỏng vấn Báo Người Lao Động, Bộ trưởng Bộ KH – ĐT Võ Hồng Phúc nói đang cân nhắc danh mục các nhóm dự án được tiếp cận nguồn vốn từ gói kích cầu này
Ngày 9-12, các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ đã có cuộc gặp gỡ với ông David Spooner, Trợ lý Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ (ảnh). Tại cuộc gặp này (do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức), ông David Spooner (ảnh) đã có cuộc trao đổi nhanh với báo chí xung quanh tình hình xuất khẩu dệt may vào Hoa Kỳ trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế.
Lãi suất (LS) cho vay tiếp tục giảm mạnh theo chủ trương nới lỏng chính sách tiền tệ của Chính phủ. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp (DN) và người dân vẫn khó tiếp cận được vốn từ các ngân hàng thương mại (NHTM). Xoay quanh thực trạng này, PV Báo SGGP đã có cuộc trao đổi với PGS-TS Trần Hoàng Ngân, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia (ảnh).
Đoàn doanh nghiệp bán lẻ ở London (Anh) do ông Neil Wynn-Jones, cố vấn thương mại quốc tế cao cấp của cơ quan thương mại và đầu tư vương quốc Anh (UKTI) dẫn đầu đang có chuyến tìm hiểu thị trường đầu tư và tìm kiếm đối tác từ ngày 16 – 21.11 tại Hà Nội và TP.HCM. SGTT phỏng vấn ông Neil Wynn-Jones dịp này.
Tạo tâm lý tin tưởng cho nhà đầu tư nước ngoài bằng sự ổn định của tình hình kinh tế, tài chính và phải làm tăng lợi suất của thị trường chứng khoán... TS Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tiền tệ quốc gia, cho biết khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Người Lao Động
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.