Sau vụ sai sót trong báo cáo kiểm toán tại CTCP Bông Bạch Tuyết, một loạt vụ việc liên quan đến gian lận về thuế, thương mại…, khiến quản trị rủi ro và gian lận trong DN ngày càng trở thành chủ đề nóng. Bên lề cuộc tọa đàm "Quản lý gian lận và các giải pháp phòng chống gian lận" do Kiểm toán Nhà nước (KTNN) và Công ty TNHH Ernst &Young Việt Nam phối hợp tổ chức mới đây, ĐTCK đã có cuộc phỏng vấn ông Petrus Gimbad, Phó tổng giám đốc phụ trách dịch vụ tư vấn rủi ro, Công ty Ernst & Young Việt Nam xung quanh vấn đề này.
Rủi ro gian lận sẽ ảnh hưởng thế nào đối với hoạt động của DN, thưa ông?
Tất cả các tổ chức kinh tế đều chịu rủi ro về gian lận. Gian lận quy mô lớn sẽ dẫn tới sự suy thoái của toàn bộ tổ chức, thua lỗ tràn lan, chi phí lớn về mặt pháp lý, bào mòn kỳ vọng trên thị trường vốn. Những hành vi gian lận của cán bộ chủ chốt bị đưa ra ánh sáng đã có ảnh hưởng xấu đối với thương hiệu, và hình ảnh của nhiều tổ chức trên toàn cầu. Những vụ scandal như Enron, WorldCom, Pamalat, Global Crossing là minh chứng điển hình.
Khi bàn về kiểm soát đối với gian lận, chúng ta nên bắt đầu từ việc áp dụng từ trên xuống, theo đó nên thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị nhằm mục đích ngăn ngừa và phát hiện gian lận. Chỉ có thể bằng những nỗ lực liên tục và không biết mệt mỏi mới có thể giúp DN ngăn ngừa các hành vi gian lận lớn.
Vậy theo ông, có những cách nào hạn chế được gian lận?
Tôi xin liệt kê những quy tắc cơ bản cho việc chủ động thiết lập môi trường kiểm soát hiệu quả đối với rủi ro về gian lận.
Quy tắc số 1, đóng vai trò là một phần trong cơ cấu quản trị kiểm soát DN, chương trình kiểm soát rủi ro về gian lận nên được thiết lập bao gồm những chính sách bằng văn bản để quán triệt kỳ vọng của ban lãnh đạo đơn vị về việc kiểm soát rủi ro gian lận.
Quy tắc 2, cần thông báo định kỳ về ảnh hưởng của rủi ro gian lận để xác định được những tình huống và vụ việc cụ thể có thể xảy ra.
Quy tắc 3, xây dựng kỹ năng phòng chống một cách khả thi những vụ việc liên quan tới rủi ro gian lận trọng yếu có thể xảy ra nhằm giảm thiểu tác động đến đơn vị.
Quy tắc 4, xây dựng kỹ năng phát hiện để tìm ra các vụ việc gian lận khi các phương tiện phòng chống không đạt hiệu quả, hoặc khi nhận thấy rủi ro là không thể giảm thiểu.
Quy tắc 5, thiết lập quy trình báo cáo để tập trung dữ liệu đầu vào về gian lận tiềm tàng và sử dụng cách thức tiếp cận có sự phối hợp giữa các bên để điều tra và đưa ra giải pháp khắc phục, nhằm đảm bảo gian lận tiềm tàng được phát hiện một cách phù hợp và kịp thời.
Là một trong 4 DN kiểm toán hàng đầu thế giới, Ernst & Young có thể giúp các công ty Việt Nam giảm thiểu ảnh hưởng của rủi ro về gian lận như thế nào?
Chúng tôi có thể giúp các đơn vị trong việc phòng tránh gian lận bằng việc cung cấp các dịch vụ về phòng tránh gian lận. Cụ thể hơn, chúng tôi giúp các đơn vị đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ trước nguy cơ gian lận và chuẩn bị kế hoạch ứng phó để giảm thiểu ảnh hưởng của nó. Ernst & Young không chỉ cung cấp các dịch vụ này cho các công ty thương mại mà còn cho các tổ chức phi chính phủ (NGO) và cho các cơ quan quản lý nhà nước...
Ai sẽ là người chịu trách nhiệm về kiểm soát gian lận? Công ty, nhà lập pháp, kiểm toán viên hay chủ sở hữu, thưa ông?
Các nguyên tắc quản trị luôn yêu cầu ban lãnh đạo của đơn vị hoặc cơ quan chủ quản giữ hành vi chính trực cao, bất kể đơn vị là công ty cổ phần, công ty tư nhân, cơ quan chính phủ hay tổ chức phi lợi nhuận; bất kể quy mô và lĩnh vực hoạt động ra sao. Vai trò của ban lãnh đạo là cực kỳ quan trọng, bởi phần lớn hành vi gian lận đựơc thực hiện qua việc thông đồng giữa các cán bộ quản lý cấp cao và các nhân viên khác.
Việc xử lý các vụ việc liên quan tới gian lận cho thấy thái độ đối với rủi ro gian lận, cũng như "sức đề kháng" của ban lãnh đạo đơn vị trước cộng đồng, cổ đông, các bên liên quan và cơ quan quản lý nhà nước.
Ngoài ban lãnh đạo đơn vị, nhân viên ở tất cả các cấp trong đơn vị, kiểm toán nội bộ cũng như kiểm toán độc lập, có trách nhiệm ứng phó với rủi ro về gian lận. Nói một cách cụ thể, họ được kỳ vọng sẽ giải trình được việc làm thế nào đơn vị đáp ứng được yêu cầu pháp lý cao cũng như sự kiểm soát từ phía cộng đồng và các bên liên quan; loại hình chương trình kiểm soát rủi ro gian lận nào đang được áp dụng; làm thế nào đơn vị xác định được rủi ro về gian lận; đơn vị đã và đang làm gì để phòng tránh gian lận tốt hơn, hoặc ít nhất phát hiện gian lận sớm hơn; quy trình nào đang được thực hiện để điều tra gian lận và đưa ra giải pháp khắc phục.
Tóm lại, kiểm soát gian lận là sự kết hợp nỗ lực của tất cả các bên liên quan, đặc biệt khi đơn vị là công ty thương mại và tổ chức công.
Ngân hàng cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) sẽ có những thay đổi gì khi HSBC nâng tỷ lệ nắm giữ tại ngân hàng này lên 20%. Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn ông Hồ Hùng Anh - Chủ tịch HĐQT Techcombank
Hiện nay số vốn vay của Tập đoàn Công nghiệp tàu Thuỷ (Vinashin) lên tới 2 tỷ USD, nhiều ý kiến lo ngại số vốn vay gấp nhiều lần vốn sở hữu, hoạt động của Vinashin có hiệu quả? Ông Phạm Thanh Bình, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vinashin đã trả lời phỏng vấn báo chí về vấn đề này.
Tạo tâm lý tin tưởng cho nhà đầu tư nước ngoài bằng sự ổn định của tình hình kinh tế, tài chính và phải làm tăng lợi suất của thị trường chứng khoán... TS Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tiền tệ quốc gia, cho biết khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Người Lao Động
Đoàn doanh nghiệp bán lẻ ở London (Anh) do ông Neil Wynn-Jones, cố vấn thương mại quốc tế cao cấp của cơ quan thương mại và đầu tư vương quốc Anh (UKTI) dẫn đầu đang có chuyến tìm hiểu thị trường đầu tư và tìm kiếm đối tác từ ngày 16 – 21.11 tại Hà Nội và TP.HCM. SGTT phỏng vấn ông Neil Wynn-Jones dịp này.
Lãi suất (LS) cho vay tiếp tục giảm mạnh theo chủ trương nới lỏng chính sách tiền tệ của Chính phủ. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp (DN) và người dân vẫn khó tiếp cận được vốn từ các ngân hàng thương mại (NHTM). Xoay quanh thực trạng này, PV Báo SGGP đã có cuộc trao đổi với PGS-TS Trần Hoàng Ngân, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia (ảnh).
Chiều ngày 25/10, sau khi Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Trung Quốc và dự Hội nghị cấp cao ASEM 7, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã trả lời phỏng vấn các nhà báo Việt Nam tháp tùng Đoàn. Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng gửi tới bạn đọc nội dung bài trả lời phỏng vấn của Phó Thủ tướng.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.