Việc một số ý kiến cho rằng nhiều khoản vay của Việt Nam chưa tính đến khả năng trả nợ là hoàn toàn không chính xác và thiếu cơ sở.
Đó là khẳng định của Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách Quốc hội Phùng Quốc Hiển với phóng viên
Theo ông Hiển, các khoản vay của Chính phủ luôn được Quốc hội kiểm soát chặt chẽ và có những tính toán kỹ lưỡng trước khi thông qua.
Thưa ông, gần đây một số ý kiến cho rằng, việc chi đầu tư nguồn vốn từ phát hành trái phiếu Chính phủ của Việt Nam vừa không đúng đối tượng, vừa để xảy ra nhiều thất thoát trong quá trình giải ngân?
Thực tế, nguồn vốn từ phát hành trái phiếu Chính phủ dùng để làm gì đều được các cơ quan của Chính phủ nghiên cứu, bàn thảo kỹ lưỡng trước khi quyết định phát hành. Thông thường là dành cho những công trình cấp bách và cần thiết nhất, nhưng phải luôn tính tới khả năng trả nợ và an ninh quốc phòng quốc gia.
Thực tế, nếu không có trái phiếu Chính phủ thì các địa phương rất khó khăn trong việc cấp vốn cho các công trình giao thông, thủy lợi... tất nhiên, trong quá trình triển khai đầu tư xây dựng cơ bản thì không thể tránh khỏi những vấn đề về lãng phí, thậm chí là thất thoát ngân sách.
Vậy Ủy ban Tài chính - Ngân sách có lượng hóa được tỷ lệ thất thoát đó không, thưa ông?
Để thực hiện được việc này thì rất khó vì phải có tổng kết đánh giá với sự vào cuộc của các cơ quan kiểm toán, thanh tra. Hiện nay, theo yêu cầu của chúng tôi thì Kiểm toán Nhà nước đang tiến hành kiểm toán tất cả các công trình sử dụng trái phiếu Chính phủ.
Ông lý giải thế nào bởi ngay cả thành viên trong Ủy ban cũng tỏ ra bức xúc trước việc giải ngân chậm các nguồn vốn từ trái phiếu Chính phủ?
Chuyện đó chỉ diễn ra đối với các nguồn trái phiếu Chính phủ trước năm 2008. Nhưng 2 năm trở lại đây, tình hình đã cải thiện rất nhiều. Có nhiều nguồn vốn đã giải ngân 90% chỉ sau một thời gian đưa về.
Tuy nhiên, việc giải ngân nhanh cũng phải hết sức thận trọng vì phải gắn với chất lượng và hiệu quả. Nhưng thực tế, tại sao gần đây việc huy động vốn trái phiếu Chính phủ hầu hết đều thất bại hoặc gặp khó khăn?
Huy động vốn bao giờ cũng khó bởi các nhà đầu tư luôn phải nhìn thấy lợi tức. Trong khi chúng ta vẫn phải căn cứ trên mặt bằng thị trường. Nếu thấp thì hơn thì không ai đầu tư, nhưng nếu cao quá thì sẽ trở thành gánh nặng lâu dài cho ngân sách, đặc biệt là nếu vốn vay lớn.
Cho nên, có những cuộc đấu thầu thất bại thì cũng là lẽ thường tình, song điều đó cũng thể hiện sự thận trọng của Chính phủ khi huy động vốn. Tại sao Chính phủ gần đây lại có chủ trương huy động vốn thông qua các tổ chức mà không qua nhân dân?
Quan điểm của chúng tôi vẫn là đa dạng hóa. Có những công trình thì cần huy động từ tổ chức, nhưng có những dự án vẫn phải cần sự tham gia của người dân. Nếu chỉ có một kênh thì chính bản thân chúng ta tự làm khó mình. Liên quan đến các khoản nợ công, tại sao đến nay vẫn có nhiều con số khác nhau, thưa ông?
Nợ công hiện đã có luật rồi, bao gồm nợ của Chính phủ, địa phương và của các doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh. Có một số tổ chức họ vẫn đưa nợ của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh vào nợ công, nhưng thực chất, nếu có nợ thì đó là nợ quốc gia, chứ không phải nợ công. Từ đó, dẫn tới việc sai lệch nhau về con số, do cách tính khác nhau.
Gần đây, có ý kiến cho rằng, Quốc hội và Chính phủ có phần “dễ tính” khi quyết định thông qua khá nhiều dự án lớn dùng vốn vay trong và ngoài nước mà chưa tính đến khả năng trả nợ?
Quốc hội chưa bao giờ “dễ tính” đối với các khoản vay của Chính phủ. Đây là vấn đề liên quan đến an ninh tài chính quốc gia nên Quốc hội luôn luôn tính toán kỹ lưỡng.
Chẳng hạn, khi bàn về vấn đề bội chi của kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XII, ngay sau khi Chính phủ đề xuất 6,5% GDP, nhưng Quốc hội chỉ quyết 6,2%. Đặc biệt hiện nay đã có Luật Quản lý nợ công rồi thì tất cả phải theo luật. Không thể có chuyện dễ dàng, châm chước được.
Hiện các khoản nợ công của chúng ta đã vượt ngưỡng an toàn chưa, thưa ông?
Đến thời điểm này, tôi có thể khẳng định là nợ công vẫn ở ngưỡng an toàn. Bởi, nếu tính theo các khoản Quốc hội cho phép đi vay như trái phiếu Chính phủ, vay bù đắp bội chi... thì dự kiến đến cuối năm nay chỉ ở mức 44,7% GDP, vẫn thấp hơn mức cảnh báo của các định chế tài chính trên thế giới.
Vậy tại sao vừa qua, Ủy ban Tài chính - Ngân sách lại có cảnh báo với Chính phủ về ngưỡng an toàn nợ?
Cảnh báo của chúng tôi là cảnh báo về mặt trung và dài hạn. Nếu trong dài hạn mà chúng ta vẫn cứ tiếp tục đi vay, vẫn bội chi, không siết chặt lại thì việc nợ công vượt quá ngưỡng an toàn là tất yếu xảy ra.
Sắp tới chúng ta sẽ phải thực hiện nhiều dự án lớn, sẽ phải vay nợ liệu có vượt ngưỡng an toàn không, thưa ông?
Chúng ta đang trong quá trình phát triển nên những đòi hỏi cho phát triển như giao thông, thông tin liên lạc, giáo dục, y tế là bức thiết, không thể không giải quyết.
Nếu chúng ta làm cùng một lúc thì tài chính không cho phép. Do đó, Quốc hội chỉ đồng ý những dự án nào thật thiết yếu, cấp bách cho phát triển kinh tế xã hội thì phải ưu tiên giải quyết.
Còn những dự án nào có thể xã hội hóa được thì sẽ kêu gọi các nhà đầu tư. Chúng ta phải cơ cấu lại đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách để bỏ gánh nặng cho ngân sách. Chỉ những công trình phục vụ lợi ích công cộng, không có khả năng thu hồi vốn thì Nhà nước mới ưu tiên đầu tư.
Nhưng liệu chúng ta đã tính đủ và đúng các khoản nợ công?
Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh vừa qua cũng đã khẳng định là phải tính đúng, bởi bây giờ đã có Luật Quản lý nợ công rồi. Chúng ta không việc gì phải giấu nợ vì có giấu cũng không giải quyết được gì cả.
Trong thời gian qua, đã có nhiều dự án bị rút giấy phép, trong đó có những dự án lên tới vài tỷ USD.Nhiều chuyên gia lên tiếng về hiện tượng dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có dấu hiệu bất ổn.
Những công bố gần đây cho thấy, doanh nghiệp (DN) nước ta đầu tư cho KHCN chỉ bằng 1/3 so với các nước phát triển và 80% không có chiến lược đầu tư cho KHCN. DN cũng chỉ dành 0,2-0,3% doanh thu cho đầu tư đổi mới công nghệ, trong khi chỉ số này ở Ấn Độ, Hàn Quốc lần lượt là 5% và 10%.
Đề cập một số vấn đề liên quan đến việc chuyển đổi mô hình doanh nghiệp nhà nước, chuyên gia kinh tế - tài chính cao cấp, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế - Ngân sách của Quốc hội, ông Đặng Văn Thanh cho rằng, vẫn còn phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế, cho dù các cơ chế, chính sách đã tạo ra sự bình đẳng trong môi trường đầu tư.
Sau kết luận của thanh tra Chính phủ về việc mua trữ thuốc Tamiflu vượt quá nhu cầu, dẫn đến hơn 10 triệu viên Tamiflu hết hạn sử dụng, nguyên bộ trưởng bộ Y tế Trần Thị Trung Chiến đã có thư gửi bộ Chính trị, thường trực Chính phủ, thanh tra Chính phủ và các cơ quan thông tin đại chúng để phản ứng kết luận trên.
Mới đây, Nghị quyết phiên họp tháng 8 của Chính phủ nêu rõ: Lãi suất cho vay hiện vẫn đang ở mức cao. Như vậy, cho tới hiện tại, bài toán hạ lãi suất của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) xem ra vẫn chưa có lời giải cụ thể. Vấn đề này, phóng viên đã trao đổi với ông Lê Đức Thúy, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia.
“Theo quan sát của cá nhân tôi, một số doanh nghiệp sữa ngoại lợi dụng thị trường Việt Nam đang có tiềm năng và cũng rất mới mẻ để tăng giá bất hợp lý. Điều quan trọng là chúng ta phải kiểm soát được giá sữa qua biên giới”.
Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đang trong quá trình sơ kết. Một trong những vấn đề được đặt ra là thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Thiên tai ở nhiều nước sản xuất lương thực lớn trên thế giới như Nga, Ấn Độ, Trung Quốc... đã gây biến động và đẩy giá nông sản trên thế giới tăng cao, đồng thời tác động đến giá nông sản trong nước, kéo theo việc tăng giá và đầu tư vào nông nghiệp hấp dẫn hơn.
Ông Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên - Môi trường chia sẻ về những kẽ hở trên thị trường bất động sản trong nước và ảnh hưởng của quy hoạch Hà Nội đến sự phát triển của thị trường, đặc biệt là định hướng phía Tây.
Cuối tháng 8-2010, tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế Fitch Ratings đã đánh tụt hạng tín nhiệm của hai ngân hàng là Vietcombank (VCB) và Á Châu (ACB). Trước đó, Fitch đã hạ bậc tín nhiệm tín dụng dài hạn của VN.
Tổ chức xếp hạng tín dụng Fitch Ratings vừa công bố hạ định mức tín nhiệm của Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) và Ngân hàng TMCP Ngoại thương VN (VCB) từ mức D xuống D/E.Chúng tôi có cuộc trao đổi với ông Lê Xuân Hải, Tổng Giám đốc ACB, để làm rõ hơn vấn đề này.
Hiện nay NLSH được sử dụng phổ biến ở hơn 50 quốc gia trên thế giới. Các nước Mỹ, Nhật Bản, các nước châu Âu đều có kế hoạch sản xuất nhiên liệu thay thế ở quy mô lớn để đáp ứng nhu cầu sử dụng NLSH ngày càng tăng.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.