Lãi suất (LS) cho vay tiếp tục giảm mạnh theo chủ trương nới lỏng chính sách tiền tệ của Chính phủ. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp (DN) và người dân vẫn khó tiếp cận được vốn từ các ngân hàng thương mại (NHTM). Xoay quanh thực trạng này, PV Báo SGGP đã có cuộc trao đổi với PGS-TS Trần Hoàng Ngân, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tài chính - tiền tệ quốc gia (ảnh).
PV: Thưa ông, LS cơ bản giảm còn 10% và LS cho vay sẽ giảm mạnh nữa nhưng nhiều DN vẫn kêu khó. Tại sao?
PGS-TS TRẦN HOÀNG NGÂN: Với LS cơ bản 10%/năm thì mặt bằng LS cho vay sẽ nằm ở khoảng 12% - 14%/năm. Mức LS này vẫn chưa “mềm” lắm với các DN. Nguyên nhân là do tỷ suất lợi nhuận của DN vẫn còn thấp, chỉ tương đương mức LS cho vay nên họ không dám vay.
Để DN có thể hấp thụ được vốn vay, nhà nước phải giảm thuế và chi phí thủ tục hành chính; còn DN phải giảm được chi phí sản xuất kinh doanh như chi phí vận chuyển, chi phí nhiên liệu… thì lợi nhuận của DN mới cao hơn. Khó thể đòi hỏi NHTM giảm LS thấp hơn nữa trong điều kiện mặt bằng huy động vốn hiện nay và chỉ số giá cả còn cao. Theo tôi, LS cho vay nằm ở mức 12%/năm là hợp lý trong giai đoạn này.
Khung LS nên như thế nào để NHTM và người vay đều hài lòng?
LS cũng bị chi phối bởi quy luật cung cầu, phải được sự thỏa thuận giữa người vay và cho vay như người bán và mua. LS cho vay trong thời gian vừa qua bị khống chế ở mức tối đa 150% mức LS cơ bản. Theo tôi, cơ chế này đã gây những khó khăn nhất định cho các NHTM, bởi có những nhu cầu đi vay vượt khung mà người đi vay vẫn chấp nhận. Hiện nay, tình trạng cho vay nặng lãi, vay “nóng” vẫn còn phổ biến.
Muốn giảm được thực trạng này thì cần có cơ chế LS linh hoạt hơn để người dân “bắt tay” được với các NHTM. Do đó, ta nên xây dựng một cơ chế LS mới được sự đồng ý của Chính phủ và Quốc hội, trong đó mức LS tối đa chỉ nên áp dụng cho những trường hợp đặc thù. NHNN được phép ban hành cơ chế riêng cho các đối tượng vay còn lại, LS cho vay tối đa có thể là 200% của LS cơ bản.
Đối với DN thì trần LS là hợp lý còn với người vay cá nhân, nhất là vay tiêu dùng thì nên áp dụng LS thỏa thuận. Hiện nay hầu hết NHTM đều cho DN vay với LS dưới mức trần nên mức trần chỉ để giúp các NHTM và DN đạt được thỏa thuận nên LS cơ bản là tham chiếu quan trọng để điều hành chính sách tiền tệ. Nhu cầu vay cá nhân và vay tiêu dùng hiện khá lớn nhưng các NHTM còn e dè là do LS cho vay, dù đụng trần, vẫn thấp so với chi phí và rủi ro cao ở đối tượng này. Do đó, với người vay này, nên bỏ LS trần.
Làm sao để đưa vốn về nông thôn trong lúc chi phí cho vay ở các NHTM còn cao?
Nông thôn rất “khát” vốn nhưng phần lớn người vay chưa đáp ứng được điều kiện vay vốn cùng chi phí thẩm định cao. Thực ra, đưa vốn về nông thôn không cao vì tại các khu vực đó, các NHTM vẫn huy động được vốn tại chỗ để cho nông dân vay lại. Hơn nữa, bây giờ việc điều chuyển vốn linh hoạt bằng điện tử chứ không bằng xe cộ nữa đâu mà tốn kém. Giải pháp cần thiết ở đây là cần có quỹ bảo lãnh để các NHTM mạnh dạn cho vay
Ngày 9-12, các doanh nghiệp xuất khẩu dệt may Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ đã có cuộc gặp gỡ với ông David Spooner, Trợ lý Bộ trưởng Thương mại Hoa Kỳ (ảnh). Tại cuộc gặp này (do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam tổ chức), ông David Spooner (ảnh) đã có cuộc trao đổi nhanh với báo chí xung quanh tình hình xuất khẩu dệt may vào Hoa Kỳ trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế.
Sau khi quyết định sử dụng 1 tỉ USD để kích cầu đầu tư, tiêu dùng, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch – Đầu tư (KH – ĐT) lên kế hoạch sử dụng số tiền này một cách hiệu quả. Dự kiến đến cuối tháng, kế hoạch chi tiết sẽ hoàn thành. Trả lời phỏng vấn Báo Người Lao Động, Bộ trưởng Bộ KH – ĐT Võ Hồng Phúc nói đang cân nhắc danh mục các nhóm dự án được tiếp cận nguồn vốn từ gói kích cầu này
Theo TS. Cao Sĩ Kiêm, nguyên Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, thủ đoạn của Madoff trong vụ lừa đảo 50 tỉ USD là lấy vốn của người này trả cho người kia với mức lãi cao. Ông cũng cho rằng, "mồi" lãi suất là công cụ quen thuộc mà hình thức “tín dụng đen” sử dụng để "bẫy" không chỉ người dân mà ngay cả các quỹ đầu tư lớn, các ngân hàng sừng sỏ trên thế giới.
Bên lề buổi làm việc giữa Thủ tướng với các tập đoàn và tổng công ty nhà nước sáng 16/12, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc đã trao đổi với báo giới về định hướng sử dụng nguồn vốn kích cầu sắp tới.
Nhiều khả năng sẽ tiếp tục có những dự án lớn được cấp phép ngay đầu năm 2009. Ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) khẳng định, sẽ không có hạn chế nào đối với các dự án đầu tư nước ngoài đáp ứng đủ các điều kiện về quy hoạch, các quy định pháp luật về đầu tư của Việt Nam.
Đoàn doanh nghiệp bán lẻ ở London (Anh) do ông Neil Wynn-Jones, cố vấn thương mại quốc tế cao cấp của cơ quan thương mại và đầu tư vương quốc Anh (UKTI) dẫn đầu đang có chuyến tìm hiểu thị trường đầu tư và tìm kiếm đối tác từ ngày 16 – 21.11 tại Hà Nội và TP.HCM. SGTT phỏng vấn ông Neil Wynn-Jones dịp này.
Tạo tâm lý tin tưởng cho nhà đầu tư nước ngoài bằng sự ổn định của tình hình kinh tế, tài chính và phải làm tăng lợi suất của thị trường chứng khoán... TS Cao Sỹ Kiêm, thành viên Hội đồng Tư vấn Chính sách tiền tệ quốc gia, cho biết khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Người Lao Động
Hiện nay số vốn vay của Tập đoàn Công nghiệp tàu Thuỷ (Vinashin) lên tới 2 tỷ USD, nhiều ý kiến lo ngại số vốn vay gấp nhiều lần vốn sở hữu, hoạt động của Vinashin có hiệu quả? Ông Phạm Thanh Bình, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Vinashin đã trả lời phỏng vấn báo chí về vấn đề này.
Ngân hàng cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) sẽ có những thay đổi gì khi HSBC nâng tỷ lệ nắm giữ tại ngân hàng này lên 20%. Chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn ông Hồ Hùng Anh - Chủ tịch HĐQT Techcombank
Bên lề cuộc tọa đàm "Quản lý gian lận và các giải pháp phòng chống gian lận" do Kiểm toán Nhà nước (KTNN) và Công ty TNHH Ernst &Young Việt Nam phối hợp tổ chức mới đây, ĐTCK đã có cuộc phỏng vấn ông Petrus Gimbad, Phó tổng giám đốc phụ trách dịch vụ tư vấn rủi ro, Công ty Ernst & Young Việt Nam xung quanh vấn đề này.
Chiều ngày 25/10, sau khi Đoàn đại biểu cấp cao Chính phủ Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Trung Quốc và dự Hội nghị cấp cao ASEM 7, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm đã trả lời phỏng vấn các nhà báo Việt Nam tháp tùng Đoàn. Cổng TTĐT Chính phủ trân trọng gửi tới bạn đọc nội dung bài trả lời phỏng vấn của Phó Thủ tướng.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.