Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, chia sẻ về chủ đề lãi suất và tỷ giá.
Trong ý kiến bình luận về một số nội dung trong Thông tư 13/2010/ NHNN, ông Lê Xuân Nghĩa có nói đến quy định tỷ lệ cho vay không quá 80% tổng vốn huy động sẽ làm giảm cung tín dụng và gây khó khăn cho việc giảm mặt bằng lãi suất.
Bên cạnh đó, ông Nghĩa cũng cho rằng, quy định về khống chế tỉ lệ vốn ngân hàng huy động trên thị trường 2 (thị trường liên ngân hàng) không vượt quá 20% tỷ lệ huy động vốn trên thị trường 1 (thị trường doanh nghiệp, dân cư), cũng làm hạn chế khả năng cung cấp tín dụng của ngân hàng thương mại đối với các doanh nghiệp.
Vậy còn có khó khăn gì đối với các ngân hàng thương mại trong việc thực hiện chủ trương hạ mặt bằng lãi suất tại thời điểm này?
Ông Nghĩa nói:
Việc hạ mặt bằng lãi suất cần có sự hỗ trợ từ Ngân hàng Trung ương khi tăng cung ứng tiền, đặc biệt là tiền dự trữ, hay còn gọi là tiền cơ sở.
Tính đến tháng 7, tổng phương tiện thanh toán (M2) tăng lên khoảng 12,7%, nhưng tiền cơ sở so với cuối năm 2009 không tăng. Điều đó cho thấy M2 tăng lên là do tiền gửi.
Điều này có thể hiểu có một bộ phận dân cư trước đây sử dụng tiền các khu vực khác, như bất động sản, chứng khoán... quay sang gửi tiết kiệm. Tổng cung ứng tiền tăng lên ít hơn so với mong muốn của Chính phủ kéo lãi suất xuống vài %.
Tôi nghĩ vấn đề đầu tiên Ngân hàng Trung ương nên xem xét là khả năng cần phải mở rộng hơn nữa cung tiền tệ ra thị trường và trong trường hợp cần thiết Ngân hàng Trung ương cần áp dụng các biện pháp khác như các nghiệp vụ thị trường mở để rút tiền về khi thấy cần thiết.
Một vấn đề khác là sự liên thông với nhau giữa lãi suất và tỷ giá hối đoái. Ngân hàng Trung ương muốn tỷ giá hối đoái phải ổn định thì làm sao hạ lãi suất được.
Vì trên thực tế, muốn hạ lãi suất thì tỷ giá phải tăng lên và ngược lại, nó liên minh chặt chẽ với nhau giữa cung ứng tiền và lãi suất đồng nội tệ và tỷ giá hối đoái. Trong “bộ ba bất khả thi” thì không thể nào điều chỉnh cái này mà không điều chỉnh cái khác.
Tôi nghĩ các chuyên gia của Ngân hàng Trung ương và Hội đồng tư vấn chính sách, tiền tệ Quốc gia cần nghiên cứu, xem xét để có những kiến nghị cụ thể về phương án tính toán chi tiết về việc có thể cung ứng tiền hay không và tăng lên bao nhiêu để không ảnh hưởng đến lạm phát, từ nay đến cuối năm.
Thưa ông, bên cạnh việc tăng cung ứng tiền thì còn biện pháp nào nữa để có thể hạ mặt bằng lãi suất?
Tôi nghĩ tăng cung tiền là biện pháp quan trọng nhất. Ngoài ra, biện pháp giảm bớt các tỉ lệ qui định về rủi ro tín dụng quá chặt chẽ. Nó có thể tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại - có tài sản lớn, huy động vốn lớn - đẩy mạnh cho vay, giúp các doanh nghiệp bớt khó khăn hơn.
Các doanh nghiệp Việt Nam trụ được qua năm 2009 đã là cố gắng lắm rồi. Họ trụ được đến bây giờ và cũng đã quá mệt mỏi chờ đợi Ngân hàng Trung ương có các hành động giảm áp lực về chi phí vốn.
Như chúng ta nhận thấy thị trường chứng khoán mấy ngày hôm nay xuống một cách thảm hại. Nó phản ánh các nhà đầu tư bắt đầu chán chường, nản lòng với những rủi ro chính sách.
Nhà đầu tư lo ngại rằng trong tương lai gần, lãi suất khó có thể giảm đáng kể và lãi suất không giảm thì doanh nghiệp không đầu tư, mà doanh nghiệp không đầu tư thì lợi nhuận rất thấp và sẽ ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán.
Ông có bình luận gì về mối liên hệ giữa tăng trưởng tín dụng ngoại tệ mạnh và hiện tượng USD trên thị trường tự do gần đây tăng lên?
Đến ngày 22/7, cho vay ngoại tệ tăng trưởng lên tới 34-35% trong khi tăng trưởng tín dụng nội tệ chỉ khoảng hơn 5%. Đó là điều chúng ta cần phải lưu ý. Nếu không tác động của các khoản vay ngoại tệ này đến tỉ giá hối đoái trong những tháng tới là rất lớn.
Trong lịch sử Việt Nam có hai thời điểm mà tỉ giá hối đoái của thị trường “chợ đen” bằng hoặc thấp hơn tỉ giá hối đoái thị trường ngân hàng. Đó là tháng 3 năm 2008 khi tiền bên ngoài lãnh thổ Việt Nam vào rất nhiều và Ngân hàng Trung ương mua quá nhiều và tuyên bố không mua nữa. Thế là tỉ giá thị trường “chợ đen” rơi xuống mức rất thấp.
Đó là một hiện tượng có thật do cung ngoại tệ vượt quá cầu ngoại tệ, đây là hiện tượng đặc biệt.
Lần này tương tự như vậy, tỷ giá thị trường “chợ đen” có mức thấp hơn hoặc bằng tỉ giá thị trường ngân hàng nhưng cung lần này là cung ảo từ nguồn tín dụng ngoại tệ, chứ không phải cung ngoại tệ từ bên ngoài vào Việt Nam. Đó cũng là một hiện tượng đặc biệt và không bình thường.
Đã là cung ảo thì nó phải nhanh chóng đổi lại thành thật. Khi các khoản vay ngoại tệ bắt đầu giảm hay các khoản vay các tháng trước bắt đầu đáo hạn thì cầu ngoại tệ sẽ tăng lên rất lớn. Có thể tạo ra những khó khăn nhất định trên thị trường hối đoái.
Hiện tượng bây giờ chúng ta có thể thấy, thị trường chợ đen và tự do, mặc dù ngoại tệ chưa phải quá mức khan hiếm nhưng tỉ giá bắt đầu có xu hướng doãn ra, có thể tăng 200 hoặc trên 200 đồng.
Một hiện tượng thứ hai cần phải chú ý trên thị trường ngân hàng là giá mua và giá bán rất gần nhau và thậm chí ngang nhau. Hiện tượng này có xuất hiện hiện tượng thu phụ phí và khi có hiện tượng thu phụ phí thì cung cầu ngoại tệ bắt đầu có vấn đề.
Đó là cái điều mà các nhà hoạt động chính sách cần phải nghiên cứu để có các động tác chính sách kịp thời.
Mặc dù diễn biến như vậy mới chỉ xuất hiện thời gian gần đây nhưng nên nhớ rằng thành công ổn định tỉ giá hối đoái thời gian vừa qua một phần do điều chỉnh tỉ giá hối đoái của Ngân hàng Nhà nước hồi tháng 3, một phần do các nguyên tắc nhất định của Ngân hàng Nhà nước, nhưng phần lớn do lượng cung ảo các khoản vay ngoại tệ vào thị trường hối đoái.
Nếu chúng ta không tỉnh táo chúng ta sẽ gặp nhiều khó khăn trong những tháng tới khi điều hành tỉ giá hối đoái.
Còn một hiện tượng đặc biệt nữa là nhiều ngân hàng thương mại, đặc biệt là các ngân hàng lớn, đã tăng lãi suất huy động ngoại tệ lên tới 5,5%/năm. Điều này có phải là tín hiệu về xu thế tăng trưởng tín dụng ngoại tệ đang tiếp tục?
Khi kéo lãi suất đồng Việt Nam giảm xuống không như kỳ vọng, thì dân chúng và các doanh nghiệp lao vào vay ngoại tệ đương nhiên làm cho tiền gửi bằng ngoại tệ giảm đi, buộc ngân hàng phải tăng lãi suất tiền gửi ngoại tệ lên để huy động.
Xu thế khó có thể nói trước được vì với tốc độ tăng hiện nay của cho vay ngoại tệ vẫn cứ tiếp tục kéo dài thì càng đáng lo ngại. Chứng tỏ ta xử lí lãi suất nội tệ chưa đủ “đô”, còn nếu lãi suất nội tệ giảm xuống mức dự kiến cho lạm phát chỉ 7%, ở mức khoảng 9 hay 10%/năm, cho vay 11 - 12 %/năm chẳng hạn, thì tình hình đã khác.
Theo ông Vũ Bá Phú, điều kiện để áp dụng các biện pháp PVTM bao gồm: Sự gia tăng đột biến của một loại hàng hoá, gây khó khăn, thiệt hại với ngành sản xuất trong nước.
Chương trình bán hàng giảm giá cho du khách, một trong những hoạt động chính của chương trình kích cầu du lịch "Việt Nam - Điểm đến của bạn", theo kế hoạch là diễn ra vào tháng 8 và 9-2010 tại ba thành phố lớn gồm Hà Nội, TPHCM và Đà Nẵng.
Việt Nam có nhiều DN dịch vụ logistics nhưng đa phần là DN nhỏ, chỉ dừng lại ở vai trò cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các hãng nước ngoài trong chuỗi hoạt động, như làm thủ tục hải quan, cho thuê phương tiện vận tải, kho bãi.
“Sau ba năm gia nhập WTO, Việt Nam đang đứng trước hàng loạt nghịch lý phát triển rất khó giải thích. Đến lúc cần đánh giá lại một cách nghiêm túc năng lực hội nhập của Việt Nam”.
Ngày 8/8/2010, Nghị định 71/2010/NĐ-CP thay thế Nghị định 90/2006/NĐ-CP về quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật nhà ở đã chính thức có hiệu lực. Nhiều ý kiến cho rằng, Nghị định 71 có nhiều điểm mới, cụ thể và sẽ làm minh bạch thị trường BĐS.
Ông Trương Đình Tuyển cho rằng: "Cần phải khởi động, phải quyết tâm tái cấu trúc nền kinh tế. Vì đây là một giải pháp quan trọng để phát triển nhanh và bền vững. Tôi tin Đại hội sẽ quyết định. Và, với không khí Đại hội sẽ chuyển từ quyết tâm sang hành động".
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trong tháng 7-2010 tại TPHCM giảm 0,09% so với tháng trước. Đây là tín hiệu đáng mừng, cho thấy các giải pháp kiềm chế lạm phát đã phát huy tác dụng. TPHCM sẽ làm gì để giữ chỉ tiêu năm 2010 ở mức 7% như kỳ vọng? PV Báo SGGP đã trao đổi với Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Thị Hồng (ảnh) để làm rõ những nội dung này.
"Khi lao động thất nghiệp giảm, có nghĩa là cơ hội việc làm lớn và ngược lại, đâu cần quan tâm một năm anh cần tạo bao nhiêu việc làm mới", nguyên Viện trưởng Viện Khoa học lao động và xã hội Nguyễn Hữu Dũng nói với VnEconomy.
Đó là nhận định của TS Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia, khi trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động xoay quanh mục tiêu tăng trưởng kinh tế của năm 2010
Ngày 20/7 tới đây, thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ chính thức lên 10! Một chặng đường chưa đủ dài, nhưng cũng không quá ngắn để nhìn nhận và có những cảm quan...
Trung Quốc sẽ phải đấu dịu sau đó, nếu không thì khó có thể ai chơi với Trung Quốc được. Bối cảnh hiện nay tạo cho Việt Nam một thời cơ hiếm có để giành được sự ủng hộ của thế giới bên ngoài và hậu thuẫn của nhân dân trong nước - Giáo sư Ngô Vĩnh Long nhận định.
Hoạt động mua bán – sáp nhập (M&A) tại Việt Nam đã có mức tăng trưởng mạnh trong năm 2011, giá trị thương vụ đạt 4,7 tỉ đô la Mỹ, trong đó các thương vụ có yếu tố nước ngoài chiếm 66% về giá trị.
Hiện nay, việc quy hoạch hệ thống thoát nước trên địa bàn TPHCM chỉ đạt 30% nhu cầu khi hệ thống thoát nước chỉ có trong phạm vi khoảng 860 ki lô mét vuông trên tổng diện tích 2.095 ki lô mét vuông của cả thành phố; như vậy tình trạng ngập vẫn còn xảy ra trong thời gian tới.
“Nguyên nhân chính là tốc độ phát triển nhanh quá nhưng không có sự kết nối của các nguồn lực khác nhau để phát triển mà chỉ sử dụng nguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước”.
Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế cần đòi hỏi thay đổi tư duy và diễn ra trên tất cả các khâu của nền kinh tế. Có 2 vấn đề cần lưu ý: tính hệ thống và bước đi của tiến trình tái cấu trúc.
“Một trong những nghiệp vụ rửa tiền nhìn thấy ở Việt Nam là thông qua hoạt động mua bán chứng khoán hoặc bất động sản để người ta chứng minh hoạt động thu nhập đấy từ kinh doanh siêu lợi nhuận. Đây cũng là một dấu hiệu cần phải phòng chống”.
Nói lên mong muốn của cộng đồng doanh nghiệp về sự điều hành chung sâu sát và linh hoạt hơn trong hoàn cảnh khó khăn hiện nay, song đại biểu Quốc hội - doanh nhân Nguyễn Thị Nguyệt Hường cũng nhìn nhận rằng "trên thực tế Chính phủ làm việc quần quật hơn cả nông dân".
Nguồn lực ở đâu để duy trì tỉ lệ đầu tư công như hiện nay, tôi cho đó là câu chuyện không đơn giản. Ngân sách Nhà nước cho đầu tư công rất cao nhưng hiệu quả thu lại quá thấp. Tiếp đến là nguồn vay, hiện nay quy mô nợ của Việt Nam (nợ công cũng như nợ nước ngoài) đang ở mức rất cao, gây ra những dấu hiệu rủi ro cao do sử dụng không hiệu quả.
168.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa đã được giảm 3.500 tỷ đồng tiền thuế là một trong các con số đáng chú ý tại báo cáo sơ kết việc thực hiện nghị quyết số 08/2011/QH 13 của Quốc hội, bổ sung một số giải pháp về thuế nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và cá nhân.
Ngay trước thềm kỳ họp Quốc hội thứ ba sẽ khai mạc vào sáng 21/5, Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội đã gửi đến các vị đại biểu một số ý kiến về kết quả thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước năm 2011 và tình hình triển khai nhiệm vụ năm 2012.
Sau gần 25 năm đổi mới, bộ mặt kinh tế, xã hội Việt Nam đã khác hẳn. So với 10 năm trước, đời sống của dân chúng nói chung hiện nay được cải thiện nhiều, vị trí của Việt Nam trên thế giới cũng tăng lên đáng kể. Rõ ràng ở đây có vấn đề hiệu suất phát triển, có khả năng bỏ lỡ các cơ hội mà nguyên nhân sâu xa nằm ở cơ chế, ở sự chậm hoàn thiện cơ chế thị trường, ở năng lực nắm bắt cơ hội, và việc thực thi các chính sách, vì các điều kiện về bối cảnh khu vực và cơ hội phát triển Việt Nam không bất lợi so với các nước lân cận.
Bàn cờ kinh tế VN bị chia thành rất nhiều mảnh nhỏ. Các mảnh này thường bị chi phối bởi các nhóm độc quyền và đặc quyền. Điểm yếu cơ bản nhất trong mô hình tăng trưởng của Việt Nam là tăng trưởng chủ yếu nhờ vào việc bán tài nguyên và gia công trình độ thấp, nhờ vào tăng lượng đầu tư và lấy khu vực kinh tế nhà nước vốn kém hiệu quả làm chủ đạo.
Việt Nam tăng 18 bậc lên vị trí thứ 71 trong bảng chỉ số về môi trường thương mại toàn cầu năm 2010 vừa được WEF công bố. Trong tổng số 125 nền kinh tế được WEF xem xét năm nay Singapore và Hồng Công tiếp tục dẫn đầu thế giới về phương diện tạo điều kiện thuận lợi cho tăng cường trao đổi thương mại toàn cầu.
Hiện nay quy mô của các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) đã mở rộng đến gấn 25% diện tích và chiếm khoảng 70% thu nhập kinh tế của cả nước. Một vấn đề đặt ra là: quan điểm ngày càng mở rộng quy mô diện tích của các VKTTĐ của Việt Nam có hợp lý hay không? Làm thế nào để các VKTTĐ phải thực sự là động lực tăng trưởng và phát triển kinh tế của cả nước ,có một thế đứng vững chắc trong tương lai nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững quốc gia.
Ngày 17-5, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH-ĐT) đã tổ chức hội thảo tham vấn cho dự thảo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 5 năm 2011-2015, với sự tham gia của đại diện các cơ quan quốc tế. Nội dung chủ yếu nêu lên bức tranh toàn cảnh về KT-XH, cùng những vấn đề liên quan khi nước ta bước vào giai đoạn "đệm" chuyển tiếp để cơ bản trở thành nước công nghiệp hóa vào năm 2020.
Bên cạnh những vấn đề quản lý đô thị, trung tâm hành chính quốc gia… thì bài toán kinh tế là băn khoăn lớn nhất khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về đồ án quy hoạch chung xây dựng Thủ đô, sáng 11/5.
Kể từ khi khu kinh tế ven biển đầu tiên là Chu Lai được thành lập năm 2003, đến nay đã có 14 khu kinh tế biển được thành lập, gồm 2 khu ở đồng bằng sông Hồng, 10 khu ở vùng duyên hải miền Trung và 2 khu ở miền Nam. Theo Quy hoạch phát triển các KKT biển đến năm 2020 cả nước sẽ có 15 khu kinh tế biển với kinh phí đầu tư khoảng 162.000 tỷ đồng và tạo việc làm cho khoảng 500.000 ngàn người.
Tại bài viết mới nhất trên blog của mình, TS. Trần Công Hòa đã phân tích và đưa ra một số khuyến nghị về hoạch định chính sách và điều hành nền kinh tế 2010: tiếp tục giảm giá VND; cắt giảm chi tiêu công; tăng tính độc lập của NHNN; kiên quyết cho phá sản những doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ; điều chỉnh chính sách thuế ở một số lĩnh vực theo phương thức lũy tiến; phát triển công nghiệp phụ trợ;...
Tăng trưởng luôn luôn là một cuộc trường chinh. Vì vậy, không thể chỉ vì tăng trưởng ngắn hạn mà hy sinh sự ổn định và bền vững trong dài hạn. Cổ nhân ngày xưa có câu “dục tốc bất đạt”, không những thế cái giá phải trả cho kinh tế bất ổn rất lớn, chỉ cần nhìn sang mấy nước xung quanh như Thái Lan, Indonesia hay Philippines là có thể thấy rất rõ điều này.
Cải cách cơ cấu là một đòi hỏi nghiệt ngã đối với tất cả các nước muốn tiến bước trên con đường đi đến phồn vinh. Thế nhưng, có nhiều nước không chủ động vượt qua đòi hỏi này khi tình thế kinh tế còn thuận lợi và thường bắt đầu nó quá muộn khi đất nước đã rơi vào khủng hoảng. Điều này lý giải tại sao nhiều nước có khởi đầu tốt nhưng rồi sa lầy trong cạm bẫy của mức thu nhập trung bình ...
Năm 2009, tăng trưởng GDP đạt 5,32%; lạm phát được kiềm chế dưới 7%; hệ số ICOR là 5, 16. Những con số này có thể cho cảm nhận kinh tế vĩ mô đang ở tình trạng khá ổn định. Tuy nhiên Tổng cục Thống kê cho rằng các cân đối vĩ mô chưa thật vững chắc, bất bình đẳng giầu nghèo tăng, chậm được khắc phục,...
Nền kinh tế của Việt Nam đã và đang ngày một trở nên phức tạp hơn, với các cơ chế, thị trường, tổ chức và lực lượng kinh tế mới ra đời trong suốt hơn hai thập niên đổi mới. Sự gấp gáp của cuộc đua tranh kinh tế được nhân lên bằng hành trình hội nhập, trong đó Việt Nam là thành viên mới của WTO.